
16-10-2004, 06:17 PM
|
Thiếu tướng
Vị trí: Dòng - Thời - Gian
Số lần Cảm Ơn: 0
Được Cảm Ơn 8 lần trong 5 Bài Viết
|
Hoàng Tử Lý Long Tường
Hoàng Tử Lý Long Tường - Người con Đất việt - Anh hùng của đất Cao ly
Hoàng tử Lý Long Tường sống vào thế kỷ 13 và là con thứ của vua Lý Anh Tông (trị vì 1138-1175), em của vua Lý Cao Tông (trị vì 1176-1210), và là chú của vua Lý Huệ Tông (trị vì 1211-1224).
Lý Long Tường vượt biên vì lý do chính trị, Năm 1225, Trần Thủ Độ tổ chức đảo chánh một cách khôn khéo, lật đổ nhà Lý, đưa cháu là Trần Cảnh lên ngôi tức Trần Thái Tông (trị vì 1225-1258), lập ra nhà Trần. (1225-1400). Sau cuộc đảo chánh không đổ máu, thì đến cuộc tàn sát đổ máụ Trần Thủ Độ đưa ra 3 biện pháp để tiêu diệt họ Lý: thứ nhất buộc con cháu nhà Lý đổi qua họ Nguyễn, thứ nhì đày con cháu nhà Lý đi lên vùng núi non biên giới phía bắc, và thứ 3 tàn sát con cháu nhà Lý. Vì sự ngược đãi của Trần Thủ Độ, con cháu nhà Lý bỏ trốn, trong đó có Lý Long Tường. Ông ra đi không phải để cầu viện hay tìm cách khôi phục nhà Lý, mà chỉ để bảo toàn sinh mạng và để lo việc thờ cúng tổ tiên. Tấm bia ghi lại công nghiệp của Lý Long Tường còn lưu lại hiện nay ở Thụ Hàng Môn (Bắc Cao Ly), có ghi như sau: "Năm bính tuất [1226], niên hiệu Bảo Khánh (đời Tống) trong nước có loạn, việc thờ cúng tổ tiên ở nhà Tông miếu bị huỷ bỏ, ông là chú vua, khóc ở miếu Nam Bình, rồi đem đồ tế khí ở bàn thờ tổ tiên, chạy về hướng đông."
Lý Long Tường qua Trung Hoa, tới Nam Kinh nhưng được biết rằng sứ thần nhà Trần đã qua Nam Kinh xin phong vương, và nhà Tống đã chấp thuận, nên Lý Long Tường thấy không thể ở lại Trung Hoạ Ông nhờ một người Cao Ly đưa qua nước Cao Ly.
khi đến Cao Ly, Lý Long Tường lên bộ ở tỉnh Hoàng Hải (Hwanghae), trên bờ biển phía tây Cao Ly, ở phía trên vĩ tuyến 38, trong eo biển nhìn qua Trung Hoạ Ông được chính quyền Cao Ly tiếp đón ân cần, và chấp nhận cho ông dung thân tại Trấn Sơn, huyện Bồn Tân, tỉnh Hoàng Hải.
Năm 1232, vua Mông Cổ là A Hoạt Đài (Ogadai) tức Nguyên Thái Tông (trị vì Mông Cổng 1229-1241), sai quân đánh qua Cao Lỵ Quân Mông Cổ đi bằng hai đường: đường bộ và đường thuỷ. Trên đường bộ, quân Mông Cổ tách làm 2, một cánh đánh thẳng vào kinh đô Cao Ly lúc đó là Khai Kinh, ở trung tâm nước Cao Ly, và một cánh quân đánh các tỉnh miền tây Cao Lỵ Về đường thuỷ, quân Mông Cổ vượt giữa Trung Hoa và Cao Ly, tiến đánh tỉnh Hoàng Hải nhưng sau đó bị đẩy luị Một trong những tướng lãnh góp công đẩy lui quân Mông Cổ ở tỉnh Hoàng Hải là Lý Long Tường.
Năm 1253, vua Mông Kha (Mangu) của Mông Cổ tức Nguyên Hiến Tông (trị vì Mông Cổ 1251-1259) gởi quân đánh Cao Ly lần nữạ Quân Mông Cổ tràn đến tấn công Hoàng Hải cả đường thuỷ lẫn đường bô.. Lý Long Tường đã cầm cự vững vàng vùng đất nầỵ Sau khi quân Mông Cổ rút lui, vua Cao Ly cho xây tại Bồn Tân một công trình kỷ niệm chiến công của Lý Long Tường là "Thụ Hàng Môn". Tại đây, vào năm 1711, người Cao Ly dựng một tấm bia ghi công trạng của Lý Long Tường.
(st)
|
|
|

09-07-2005, 10:28 PM
|
Trung úy
Số lần Cảm Ơn: 0
Được Cảm Ơn 0 lần trong 0 Bài Viết
|
Mình đã nghe danh từ lâu, nay mới được biết được các chiến công của ông. Thật đáng khâm phục, người Hàn Quốc có tộc họ Lý là nhờ thế. Và ko rõ khi nào, nhưng là những năm gần đây, con cháu họ Lý ở Hàn Quốc có về Việt Nam làm lễ tổ tông đó.
****
Nhớ viết có dấu nghe bạn!
Thân.
thay đổi nội dung bởi: bochet, ngày 10-07-2005 lúc 11:47 AM.
Lý do: thêm dấu
|
|
|

22-02-2008, 04:43 PM
Vị trí: BacBaPhi"s Everlasting Love
Số lần Cảm Ơn: 2,445
Được Cảm Ơn 1,414 lần trong 531 Bài Viết
|
Hậu duệ Hoàng tử Lý Long Tường về thăm cố hương
Là hậu duệ đời thứ 36 của Hoàng tử Lý Long Tường, người đã sang Hàn Quốc từ 780 năm trước, ông Lý Tường Tuấn, Chủ tịch Tập đoàn Tài chính Golden Bridge đã rất tự hào khi được mời dự lễ gặp mặt những người Việt Nam ở nước ngoài nhân dịp Tết.
Bởi vậy, dù rất bận rộn, song ông vẫn cố gắng dành thời gian để có mặt tại buổi gặp gỡ giữa lãnh đạo Đảng, nhà nước Việt Nam với bà con kiều bào. Trong buổi lễ hôm ấy, ông đã chia sẻ tâm tư tình cảm của mình khi hướng về cội nguồn.
Xin ông cho biết, dòng họ Lý ở Hàn Quốc đã và đang phát triển như thế nào?
Hoàng tử Lý Long Tường sang định cư tại Hàn Quốc đến nay đã được khoảng 780 năm và đã dựng lên dòng họ rất lớn ở Hàn Quốc. Qua hàng chục đời, những người con mang dòng họ Lý, dòng máu Việt ngày càng được sinh sôi nảy nở. Theo ước tính, hiện có khoảng 1,5 triệu người mang họ Lý và dòng họ ấy vẫn đang phát triển.
Là hậu duệ của hoàng tử Lý Long Tường cũng có nghĩa là hậu duệ của vua Lý Thái Tổ, cảm xúc của ông khi được mời về dự lễ gặp mặt những người Việt Nam ở nước ngoài nhân dịp xuân Mậu Tý, cảm giác của ông lúc này ra sao?
Hôm nay được mời đến dự lễ gặp mặt việt kiều với tư cách là hậu duệ của vua Lý Thái Tổ, tôi cảm thấy rất vui mừng. Đây là buổi gặp mặt hết sức có ý nghĩa bởi nó diễn ra đúng vào thời điểm chuẩn bị bước sang một năm mới. Tôi đã được trở về quê hương, được chứng kiến sự phát triển của Việt Nam.
Vậy sự phát triển của Việt Nam trong con mắt của ông là như thế nào?
Việt Nam chúng ta đã phát triển rất nhanh chóng với nhiều sự kiện nổi bật như vừa trở thành Uỷ viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, gia nhập WTO... Đó là những mốc son đánh dấu sự phát triển rất to lớn của Việt Nam. Qua đó, tôi đã chờ đợi cũng như hi vọng các hoạt động kinh doanh sẽ tương xứng với sự phát triển của đất nước Việt Nam.
Được biết, ông cũng là một nhà kinh doanh. Vậy có sự ảnh hưởng nào trong công việc của ông khi biết mình mang dòng máu Việt?
Ngay từ nhỏ, tôi đã luôn được cha mẹ và những người thân trong gia đình nhắc nhở: “Con chính là hậu duệ của hoàng thân Lý Long Tường, có nguồn gốc từ Việt Nam, phải sống sao cho xứng đáng với con dòng cháu giống”. Bởi vậy, tôi chưa bao giờ quên cội nguồn của mình cũng như luôn muốn đem sức lực của mình cùng với những công nghệ mới của Hàn Quốc để đầu tư cho sự phát triển nền kinh tế của Việt Nam.
Hiện nay tôi là chủ tịch và cũng là thành viên sáng lập công ty Golden Brigde tại Hàn Quốc. Đây là công ty chuyên về lĩnh vực chứng khoán, bất động sản, tài chính. Tôi đã trở về Việt Nam lần đầu tiên vào năm 2003, nhưng phải đến năm 2005, công ty Golden Brigde mới bắt đầu có mặt tại Việt Nam với những hoạt động kinh doanh là cung cấp vốn, tài chính và tham gia vào thị trường chứng khoán.
Trong đó, tôi đang xúc tiến đầu tư mạnh vào thị trường chứng khoán ở Việt Nam. Theo tôi, đây là một thị trường khá mới mẻ nhưng đã bắt kịp với tốc độ tăng trưởng và phát triển của thế giới.
Về quê hương vào thời điểm thật có ý nghĩa, đó là khi cả nước Việt Nam đang chuẩn bị đón năm mới, năm Mậu Tý, ông có dự định sẽ ăn Tết tại đây?
Tôi cũng như nhiều người Việt Nam đang sinh sống tại nước ngoài đều có chung tấm lòng và suy nghĩ rằng mình có quê hương là Việt Nam thì tấm lòng mình luôn gắn với Việt Nam. Bởi vậy, được ăn Tết tại quê hương là niềm hạnh phúc lớn lao đối với tôi. Năm ngoái tôi cũng đã ăn Tết ở Việt Nam. Còn năm nay, do bây giờ tôi đang chuẩn bị đi công tác nên chưa có kế hoạch chính xác, song có thể trong ngày tết tôi sẽ về Việt Nam.
Nhân đây, tôi xin gửi lời chúc mừng năm mới đến toàn thể những người con Việt Nam đang sinh sống ở khắp nơi trên thế giới này. Chúc mọi người một năm mới sức khoẻ, hạnh phúc và thành đạt.
|
|
|

23-02-2008, 07:40 PM
Vị trí: BacBaPhi"s Everlasting Love
Số lần Cảm Ơn: 2,445
Được Cảm Ơn 1,414 lần trong 531 Bài Viết
|
Cựu tổng thống Đại Hàn là hậu duệ của Lý Long Tường
Cựu Tổng-thống Đại Hàn Lý Thừa Vãn là hậu duệ đời thứ 25 của Kiến-Bình Vương Lý Long Tường  . Kiến Bình Vương là con thứ 6 của vua Lý Anh-Tông. Người cùng tông tộc sang Cao-ly vào đầu thế kỷ thứ 13 vì quốc nạn.
Năm Bính Tuất, 1226, bấy giờ là niên hiệu Kiến-trung thứ nhì đời vua Thái-tôn nhà Trần. Biết mình là con thứ sáu vua Lý Anh-Tông, lại đang giữ chức đô đốc, tư lệnh hải quân, trước sau gì cũng bị Trần Thủ Ðộ hãm hại, nên ông đã đem tướng sĩ dưới quyền, tông tộc, cùng hạm đội ra đi, sau đó trôi dạt vào Cao-ly.
Vua Lý Nhân-Tông không có hoàng nam, người nhận con của các thân vương trong hoàng tộc làm con nuôi. Năm Ðinh Dậu (1117) nhận con của hầu Sùng Hiền, Thành Khánh, Thành Quảng, Thành Chiêu, Thành Hưng làm con nuôi. Sau truyền ngôi cho con của Sùng Hiền hầu là Lý Dương Hoán, tức vua Lý Thần-Tông. Khi Lý Thần-Tông băng, Thái-tử Thiên-Tộ còn bế ngửa, triều thần muốn tôn con của Thành Quảng hầu là Lý Dương Côn lên nối ngôi. Cuộc tranh quyền trong giòng họ Lý diễn ra, sau vợ của vua Lý Thần-Tông nhờ có tình nhân là Ðỗ Anh Vũ giúp đỡ, mà loại hết các địch thủ. Năm Canh Ngọ (1150) nhân vụ chính biến, Cảm Thánh thái hậu mưu với tình nhân Ðỗ Anh Vũ giết hết tông tộc của các hầu Thành Khánh, Thành Chiêu, Thành Hưng. Bấy giờ con Thành Quảng hầu là Kiến Hải Vương Lý Dương Côn đang là đô đốc Thủy-quân, bèn đem gia thuộc xuống chiến thuyền lưu vong. Song không biết đi đâu (1150).
"Lý Dương Côn hiệu là Nguyên Minh, hoàng tử thứ ba con vua Càn Ðức, được Tống triều phong tước Nam-bình vương".
Tra trong sử Việt, thì vua Càn Ðức chính là tên của vua Lý Nhân-tông. Vua Lý Nhân-Tông là con của vua Lý Thánh-Tông với Ỷ-Lan phu nhân, sau được tôn là Linh-Nhân hoàng thái hậu. Người chỉ đạo cuộc đánh Tống, kháng Tống lừng danh lịch sự Việt-Nam. Niên hiệu Hội-tường Ðại-khánh thứ 8 (DL.1117, Ðinh Dậu)...
... Tìm con trai trong tôn thất để nuôi trong cung. Xuống chiếu rằng: "Trẫm cai trị muôn dân mà lâu không có hoàng nam, ngôi báu của thiên hạ biết truyền cho aỉ Nên trẫm nuôi con của các hầu Sùng Hiền, Thành Khánh, Thành Quảng, Thành Chiêu, Thành Hưng, chọn người giỏi lập làm thái tử. Bấy giờ con Sùng Hiền hầu là Dương Hoán, lanh lợi, vua rất yêu, bèn lập làm Thái-tử".
Vậy thì Lý Dương Côn là con nuôi của vua Lý Nhân-tông, chứ không phải con đẻ. Con nuôi thứ ba, thì là con của Thành Quảng hầu tên Lý Dương Côn, tước phong Kiến Hải vương.
Hậu duệ đời thứ sáu của Lý Dương Côn là Lý Nghĩa Mẫn (Lee Unimin) trở thành nhân vật kiệt hiệt trong lịch sử. Bấy giờ Cao-ly đang ở dưới triều đại vua Nghị-Tông (Ui-jiong 1146-1170). Nhà vua rất sủng ái Lý Nghĩa Mẫn, phong cho chức Biệt-trưởng. Nước Cao-ly trong thời gian này, phải chống trả với cuộc xâm lăng của Khiết Ðan tức Ðại-liêu, nên các võ tướng nắm hầu hết quyền hành. Năm 1170 tướng Trịnh Trọng Phu (Jeong Jung-bu) chưởng môn một võ phái, đảo chính vua Nghị-Tông lập vua Minh-Tông (Mycong 1170-1179). Trọng Phu bị các võ phái, võ tướng nổi lên chống đối. Lý Nghĩa Mẫn là người phụ tá đắc lực cho Trịnh Trọng Phu, đem quân dẹp các cuộc nổi dậỵ Ông được thăng chức Trung-lang tướng, Tướng-quân, Ðại-tướng quân (1173), Thượng-tướng quân (1174), cuối cùng là Tây Bắc bộ binh mã sứ (1178). Năm 1179, một võ quan khác là Khánh Ðại Thăng (Kyung Dae-Seung) làm cuộc chính biến, giết chết Trịnh Trọng Phu, lên nắm quyền. Bấy giờ Lý Nghĩa Mẫn giữ chức Hình-bộ thượng thư (1181). Vì ông thuộc phe Trịnh Trọng Phu, nên bị nghi ngờ, chèn ép. Ông cáo quan về hưu. Sau khi Khánh Ðại Thăng chết, vua Minh-Tông mời Lý Nghĩa Mẫn vào bệ kiến, được trao chức Tư-không, Tả-bộc xạ, Ðồng-trung thư môn hạ bình chương sự tức Tể-tướng trong 14 năm (1183-1196). Năm 1196, một phe võ tướng do Thôi Chung Hiếu (Cho Chung Heon) cầm đầu làm cuộc đảo chính, giết Lý Nghĩa Mẫn. Ba con ông là Lý Chính Thuần, Lý Chí Vinh, Lý Chí Quang đều là tướng cầm quân, cũng bị giết chết. Quân phiến loạn chỉ tha cho người con gái ông là Lý Hiền Bật. Giòng họ Lý Tinh-thiện tưởng đâu tuyệt tự. Nhưng may mắn thay, giòng họ này còn kế tục là nhờ người anh Lý Nghĩa Mẫn và các con không bị hại.
Dòng họ Lý tại Tinh-thiện thuộc đạo Giang-nguyên, phía Ðông Nam Ðại-hàn ngày nay là con của hoàng tử Lý Dương Côn thuộc triều Lý, Việt-Nam (1010-1225). Lý Dương Côn bỏ quê hương ra đi vì sự đe dọa của nước Kim đối với Tống, năm 1115. Tới năm 1127 thì Bắc Tống bị diệt.
Vua Lý Nhân-Tông nhận con nuôi năm 1117. Vua Thần-Tông sinh năm 1116, vậy thì Lý Dương Côn chỉ có thể sinh năm 1116 hay 1117 mà thôi. Năm Lý Dương Côn rời Ðại-Việt ra đi là năm 1150. Bấy giờ ông mới 32-33 tuổi. Thế nhưng gia phả Lý Tinh-thiện nói rằng năm 1170 Lý Nghĩa Mẫn, hậu duệ đời thứ sáu của Lý Dương Côn, được vua Nghị-Tông phong cho chức Biệt-trưởng. Ðây là điều vô lý. Bởi năm đó chính Lý Dương Côn có còn tại thế thì ông mới có 54 tuổi, làm sao ông đã có cháu 6 đờỉ . Lý Nghĩa Mẫn là con Lý Dương Côn. Còn hậu duệ đời thứ sáu là kể từ vua Lý Thái-tổ:
Lý Thái-tổ.
Lý Thái-tông.
Lý Thánh-tông.
Lý Nhân-tông.
Kiến Hải vương Lý Dương Côn.
Lý Nghĩa Mẫn.
Trong gia phả Lý Tinh-thiện nói rằng, Lý Dương Côn rời quê hương ra đi vì quốc nạn. Vì sự đe dọa của Kim?. Có lẽ khi giải đoán việc ra đi của Lý Dương Côn, sử Cao-ly nói điều này. Vì hồi ấy, nước Kim đang từ một bộ lạc Nữ-chân, nổi lên diệt nước Liêu, rồi đem quân đánh Tống. Sau đó, họ bắt vua Tống mang về Bắc. Nhưng con cháu nhà Tống lại tái lập triều Nam-Tống. Khoảng cách Kim với Ðại-Việt còn một nước Tống quá rộng, quá xa. Dù Kim hùng mạnh cũng không ảnh hưởng gì tơí Ðại-Việt khiến Lý Dương Côn phải bỏ nước trốn đi. Nhất là giai đoạn 1161 đến 1174, bấy giờ binh lực Ðại-Việt đang mạnh, muốn hướng lên Bắc tái chiếm lại Quảng Ðông, Quảng Tây!
Lần lại trang sử Ðại-Việt thời đó: Vua Thần-Tông được vua Nhân-Tông đem vào cung nuôi cùng 4 người anh em họ. Nhưng ngài được lập làm Thái-tử, rồi lên ngôi vua. Theo Hội Ðiển sự lệ triều Lý thì những chức như: Thái-úy, Tổng-lĩnh Thiên-tử binh, Ðại Ðô Ðốc Thủy quân, luôn trao cho các hoàng đệ. Vì vậy trong 5 con nuôi của vua Lý Nhân-tông, thì Thái-tử Dương Hoán được truyền ngôi, còn 4 con nuôi khác, là con của các hầu Thành Khánh, Thành Quảng, Thành Chiêu, Thành Hưng ắt được phong vào các chức trên. Con của Thành Quảng hầu là Lý Dương Côn được phong tước Kiến Hải vương, lĩnh chức Ðại Ðôđdốc Thủy-quân. Khi vua Thần-Tông băng (1138), Thái-tử Thiên-tộ mới có 2 tuổi, triều thần muốn tôn hoàng đệ Lý Dương Côn lên ngôi vua, vì ông là người thông minh, tài trí, đang là Ðại Ðô Ðốc, ở tuổi 22. Nhưng rồi mẹ của Thái-tử Thiên-tộ là Cảm Thánh hoàng hậu đã dùng vàng bạc đút lót cho các quan, bà lại được tình nhân Ðỗ Anh Vũ là em của Chiêu Hiếu thái hậu, (mẹ vua Thần-tông) hết sức ủng hộ. Thiên-tộ lên ngôi vua, sau là vua Anh-tông. Dĩ nhiên vua Anh-Tông lên ngôi, khi còn bế ngửa, thì mẹ là Cảm Thánh thái hậu thính chính, nói khác đi là làm vua. Bà phải diệt hết những mầm mống có thể nguy hiểm cho con bà. Bà cùng Ðỗ Anh Vũ vu cáo, giết hết các em nuôi của vua Thần-Tông là con của các hầu em vua Nhân-tông. Toàn gia các hầu, từ thê thiếp, con, cháu, thân binh, nô bộc đều bị giết sạch. Riêng Lý Dương Côn đóng quân ở Ðồn-sơn, được mật báo. Ông đem hết gia thuộc, xuống chiến thuyền, bỏ quê hương ra đi, rồi táp vào Cao-ly.
Dù Lý Nghĩa Mẫn là cháu 6 đời của Kiến Hải vương Lý Dương Côn hay là cháu 6 đời vua Lý Thái-tổ, kết luận rằng : Năm 1150, Kiến Hải vương Lý Dương Côn, lĩnh chức Ðại Ðôđdốc đã cùng tông tộc dùng thuyền tỵ nạn tại Cao-lỵ Ðời sau có nhân vật kiệt hiệt là Lý Nghĩa Mẫn, đóng một vai trò trọng yếu trong lịch sử Cao-ly. Giòng họ Lý này, nay vẫn còn truyền tử lưu tôn tại Ðại-hàn.
Giòng thứ nhì, hậu duệ của Kiến-bình vương Lý Long Tường, còn gọi là Lý Hoa-sơn
Giòng họ Lý thứ nhì tới Ðại-hàn sau giòng họ Lý Tinh-thiện 76 năm, là hậu duệ của Kiến Bình vương Lý Long Tường, con thứ 7 của vua Lý Anh-tông.
Theo Trần-tộc vạn thế ngọc phả, của chi bốn, thuộc giòng dõi Chiêu-quốc vương Trần Ích Tắc, để tại nhà từ ở thị xã Lãnh-thủy, huyện Chiêuđương, tỉnh Hồ Nam, Trung-quốc; phần chép về Ninh-tổ hoàng đế Trần Lý. Có đoạn nói về các con vua Lý Anh-tông, nguyên văn như sau : Vua có bẩy hoàng tử.
Hoàng trưởng tử Long Xưởng do Chiêu Linh hoàng hậu sinh vào niên hiệu Ðại Ðịnh thứ 12 (DL.1151, Tân-Mùi). Ðược phong tước Hiển Trung vương, lập làm Thái-tử. Niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo nguyên nhiên (DL.1174, Giáp-Ngọ) bị giáng xuống làm con út, tước Bảo Quốc vương. Niên hiệu Trinh Phù thứ sáu (DL.1181, Tân-Sửu) làm phản, bị hạ ngục, rồi bị Ðỗ An Di giết cả nhà, thọ 31 tuổi. Hoàng-tử thứ nhì Long Minh do Thần-phi Bùi Chiêu Dương sinh vào niên hiệu Ðại Ðịnh thứ 11 (DL. 1152, Nhâm-Thân). Tước phong Kiểm-hiệu Thái-sư, Thượng-trụ quốc, Khai-phủ nghị đồng tam tư, Trung-vũ quân tiết độ sứ, lĩnh đại đôđdốc, Kiến Ninh vương. Bị giết niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo thứ nhì (DL.1175.). Thọ 24 tuổi.
Hoàng-tử thứ ba Long Ðức, cũng do Bùi Thần-phi sinh niên hiệu Ðại Ðịnh thứ 12 (DL.1153, Quýđậu) ra. Chức tước phong như sau : Dao-thụ Thái-bảo, Khu-mật viện sứ, Thượng-thư tả bộc xạ, Phụ-quốc thượng tướng quân, Long-thành tiết độ sứ, Kiến An vương. Bị giết niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo thứ nhì (1175), thọ 23 tuổi.
Hoàng-tử thứ tư Long Hòa do Quý-phi Hoàng Ngân Hoa sinh niên hiệu Ðại Ðịnh thứ 11 (DL.1152, Nhâm-Thân). Chức tước phong như sau : Ðặc tiến Thiếu-sư, Khu-mật viện sứ, Thượng-thư tả thừa, Trấn Nam tiết độ sứ, Thượng-thư lệnh, Tả kim ngô thượng tướng, Tổng-lĩnh Thiên-tử binh, Kiến Tĩnh vương. Bị giết niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo thứ nhì (1175) thọ 24 tuổi.
Hoàng-tử thứ năm Long Ích, do Ðức-phi Ðỗ Kim Hằng sinh niên hiệu Chính-long Bảo-ứng thứ 5 (DL.1167, Ðinh-Hợi). Chức tước phong như sau : Dao-thụ Thái-phó, trấn Nam tiết độ sứ, Thượng-thư tả thừa, Kiến Khang vương. Hoăng niên hiệu Kiến-gia thứ 2 (DL.1212 Nhâm-Thân), thọ 46 tuổi.
Hoàng-tử thứ sáu Long Trát, do Thục-phi Ðỗ Thụy Châu sinh niên hiệu Chính-long Bảo-ứng thứ 11 (DL.1172, Nhâm-Thìn), tháng 5, ngày 25, niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo nguyên niên được lập làm Thái-tử. Năm thứ nhì được truyền ngôị Băng niên hiệu Trị-bình Long-ứng thứ 6 (DL.1210, Canh-Ngọ), ngày 28 tháng 10, thọ 38 tuổị Hoàng-tử thứ bảy Long Tường do Hiền-phi Lê Mỹ Nga, sinh vào niên hiệu Chính-long Bảo-ứng thứ 12 (DL.1174, Giáp-Ngọ). Ðức Thái-Tông nhà ta (tức Trần Cảnh) phong chức tước phong như sau : Thái-sư Thương-trụ quốc, Khai-phủ nghị đồng tam tư, Thượng-thư tả bộc xạ, lĩnh đại đô đốc, tước Kiến Bình vương. Niên hiệu Kiến-trung thứ nhì đời đức Thái-Tông nhà ta (tức Trần Cảnh), tháng tám, ngày rằm, vương cùng gia thuộc hơn 6 ngàn người bôn xuất. So sánh giữa Tộc phả Hoa-sơn và Trần tộc vạn thế ngọc phả, có một chi tiết khác nhaụ Tộc phả Kiến Bình thì chép Kiến Bình vương là con thứ sáu vua Anh-tông. Trong khi Trần tộc vạn thế ngọc phả lại chép vương là con thứ bẩỵ Vì sao ? Phả Trần tộc chép theo huyết tộc, ai sinh trước là anh, ai sinh sau là em. Vì vậy Kiến Bình vương là con thứ 7. Phả Kiến Bình thì chép thứ tự theo chỉ dụ của vua Lý Anh tông, Long Xưởng bị giang xuống làm con út, thì Long Tường trở thành con thứ sáu.
Hồi đó Lý Long Tường dẫn tông tộc rời Ðại-Việt ra đi. Trần triều không biết đi đâu. Nay chúng ta mới được biết vương với hạm đội bị bão phải ẩn ở Ðài-loan. Nghỉ ít lâu, hạm đội của vương lại tiếp tục lên đường rồi dạt vào Cao-ly. Duy một người con của vương tên Lý Long Hiền cùng gia thuộc hơn hai trăm người ở lại Ðài-loan. Vương là khai tổ của giòng họ Lý tại Ðại-hàn, thế tử Long Hiền là khai tổ của giòng họ Lý tại Ðài-loan hiện nay ?
Tổng-thống Lý Thừa Vãn của Ðại-hàn là hậu duệ đời thứ 25 của Kiến Bình vương Long Tường. Còn tổng thống Lý Ðăng Huy của Ðài-loan có phải là hậu duệ của thế tử Lý Long Hiền hay không, bởi Lý là giòng họ chiếm đa số ở Trung-quốc. Nhà vua có tới bẩy hoàng tử. Nếu sự thực Long Xưởng phạm tội, phế xuống, sao không lập các con đã trưởng thành, tài trí xuất chúng, đang cầm đại quyền như Kiến Ninh, Kiến An, Kiến Tĩnh vương? Hoặc cùng quá, thì lập Kiến Khang vương Long Ích, năm ấy đã chín tuổi . Mà phải lập Long Trát mới có 26 tháng làm Thái-tử, rồi phải cử Tô Hiến Thành làm phụ chính?
Niên hiệu Kiến-trung thứ nhì đời vua Thái-Tông nhà Trần (DL.1226, Bính Tuất), lo sợ bị Thái-sư Trần Thủ Ðộ hãm hại, vì vị thế trọng yếu của mình:
· Là con vua Anh-tông, em vua Cao-tông, chú vua Huệ-tông.
· Thân vương duy nhất nắm quyền hành.
· Chức tước cực phẩm Thái-sư Thương-trụ quốc, Khai-phủ nghị đồng tam tư, Thượng-thư tả bộc xạ, lĩnh đại đô đốc.
Vương âm thầm cùng Bình Hải công Lý Quang Bật từ căn cứ Ðồn-sơn về Kinh Bắc, lạy ở lăng miếu Ðình-bảng. Lại đến Thái-miếu mang bài vị, các tế khí ra trấn Ðồn-sơn, rồi đem hết tông tộc hơn 6 nghìn người, xuống hạm đội ra đi.
Việc Kiến Bình vương ra đi, có lẽ bắt nguồn từ việc ra đi của Kiến Hải vương trước kia chăng? Sau hơn tháng lênh đênh trên biển, thì gặp bãọ Hạm đội phải ngừng lại một đảo (Ðài-loan?) rồi tiếp tục lên đường. Một trong các con của vương là Thế-tử Lý Ðăng Hiền cùng vợ con ở lại đảo. Hạm đội lênh đênh trên biển một thời gian, thì táp vào cửa Phú-lương giang, quận Khang-linh (Ong Jin-Gun) tỉnh Hoàng-hải (Hwang-hac) thuộc Bắc Cao-ly. Nơi hạm đội táp vào, dân chúng gọi là Nak-nac-wac có nghĩa là Bến của khách phương xa có đồ thờ cúng.
Kỳ diệu thay, đêm hôm trước, vua Cao-Tông (Kojong) mơ thấy một con chim cực lớn bay từ phương Nam lại đậu ở bờ Tây-hải. Tỉnh lại, vua sai người tới đó tìm kiếm, thì gặp hạm đội của Kiến-bình vương. Kiến-bình vương được bệ kiến. Vương dùng bút đàm với vua Cao-Tông và các đại thần Cao-ly. Triều đình Cao-Tông đối xử với vương rất tốt, chu cấp lương thực. Cho làm nhà ở Ung-tân phủ Nam-trấn sơn (Chin-sang).
Lý Long Tường cùng tướng sĩ, gia thuộc bắt đầu cuộc sống mới. Trồng trọt, đánh cá, chăn nuôi làm kế sinh nhai. Ông mở trường dạy học: Thi phú, lễ nhạc, tế tự, binh pháp, võ thuật. Ông soạn sách Học vấn giảng hậu. Vì học trò đông, ông cho xây Ðộc-thư đường, Giảng võ đường. Ðệ tử của ông lúc nào cũng trên nghìn người.
Tháng 7 năm Quý-sửu (1253) đời vua Cao-Tông thứ 40, quân Mông-cổ xâm lăng Cao-ly, vượt Hỗn Ðồng giang, chiếm Tây-hải, phá An-giang Tây-thành. Về mặt thủy, Mông-cổ chiếm các đảo Ðại-thanh, Tiểu-thanh, Sáng-lân, rồi tiến chiếm Tây Ðô (Giang-hoạ) Thủ Ðô Cao-ly bị đe dọa. Các tướng sĩ hầu hết bị tử trận.
Thấy tình hình Cao-ly nguy ngập, Kiến Bình vương đến gặp Thái-úy (tướng tổng chỉ huy quân đội) là Vi Hiển Khoan, cố vấn cho ông về binh pháp Ðại-Việt. Ðích thân vương cỡi bạch mã chỉ huy cuộc giữ thành: Ðắp thành cao lên, đào hào đặt chông quanh thành. Trong thành đào giếng để có nước uống, tích trữ lương thảo. Ông đem tất cả binh pháp Ðại-Việt trong những lần đánh Tống, bình Chiêm ra giúp Cao-ly.
Ðánh nhau suốt 5 tháng, quân Nguyên bị tuyệt lương thảo, bị chặn đường rút lui, xin hàng (6). Tết năm ấy, toàn Cao-ly mừng chiến thắng. Triều đình khen ngợi Lý Long Tường, lấy tên ngọn núi ở quê hương ông là Hoa-sơn; phong cho ông làm Hoa-sơn tướng quân. Cho đổi tên ngọn núi nơi ông cư ngụ là Hoa-sơn. (4). Nhà vua sai dựng bia ghi công ông trên núi Hoa-sơn, đích thân vua viết ba chữ Thụ hàng môn (Cửa tiếp thụ giặc đầu hàng). Cho đến nay, sau hàng trăm năm, trải biết bao nhiêu mưa nắng, thăng trầm; tấm bia ấy vẫn trơ gan cùng cùng tuế nguyệt, nhắc nhở du khách nhớ huân công của một Việt-kiều trên Hàn-quốc.
Phúc tại Tiêu-sơn lĩnh, Thất đại bôn Bắc Cao, Bình Mông danh vạn đại, Tử tôn giai phong hầu. Học phong nhân bất cập. Vọng quốc hồn phiêu phiêu, Kim tải quá bát bách, Hà thời quy cố hương?
Ngài là người họ Lý, được hưởng phúc tại ngọn núi Tiêu-sơn. Kể từ vua Lý Thái-tổ tới ngài là đời thứ bẩy, phải bôn tẩu đến xứ Bắc Cao-ly. Nhờ chiến công đánh Mông-cổ, mà con cháu ngài đều được phong hầu. Ngoài ra, ngài là người đem học phong tới Cao-ly, công đức ấy không ai sánh kịp. Thế nhưng trải trên 8 trăm năm, hồn ngài lúc nào cũng phiêu phưởng, không biết bao giờ được về cố hương ?.
Ngày nay trên ngọn đồi Julbang thuộc xã Ðỗ-môn (Tô-mơ-ki) cách núi Hoa-sơn 10 cây số về phía Tây còn lăng mộ ngài và con, cháu cho đến ba đời. Trên Quảng Ðại sơn có Vọng-quốc đàn, nơi cuối đời ngài thường lên đó, ngày ngày nhìn về phương Nam, ôm mặt khóc, tưởng nhớ cố quốc. Mỏm đá mà ngài đặt chân đầu tiên lên bờ biển Cao-ly, được gọi là Việt-thanh nham, tức đá xanh in vết tên Việt. Trên Hoa-sơn còn rất nhiều di tích kỷ niệm huân nghiệp của vương. Khi đến Hoa-sơn hành hương, thay vì chào nhau, du khách được hướng dẫn viên du lịch dạy cho nói câu: Hữu khách, Hữu khách, kỵ bạch mã. Nghĩa là Có người khách cỡi ngựa trắng, tức Lý Long Tường. Cho đến nay, giòng họ Lý Hoa-sơn truyền trải 28 đời. Tại Nam-hàn chỉ có khoảng hơn 200 hộ, với trên dưới 600 người. Tại Bắc-hàn thì đông lắm, không thống kê được. Lý tộc tại Nam-hàn, hầu hết họ là những gia đình có địa vị trọng yếu về giáo dục, kinh tế, kỹ nghệ. Kỳ ứng cử vừa qua, một ứng viên Tổng thống họ Lý suýt trúng cử.
Theo tấm bia trên mang tên Thụ-hàng môn bi ký, thì Kiến Bình vương Long Tường có nhiều con trai, tất cả đều hiển đạt. Không thấy nói tớí Lý Long Hiền, cùng tông tộc hơn 200 người ở lại Ðài-loan. Lý Cán Ðại lĩnh Ðề-học nghệ văn quán, Kim-tử quang lộc đại phụ Lý Huyền Lương, Tham-nghị l tào, Chính-nghị đại phụ Lý Long Tiền Giám- tu quốc sử.
Ngày nay, tại Bắc-hàn, cứ đến dịp tết Nguyên Ðán, hậu duệ của Kiến Bình Vương Lý Long Tường khắp lãnh thổ Ðại-hàn đều kéo về Hoa-sơn để dự lễ tế tổ. Khởi đầu của cuộc tế, đánh chín tiếng trống, gọi là Tâm-thanh để mọi người cùng tưởng nhớ cố quốc. Theo gia phả của chi Thuận-xuyên, sở dĩ đánh chín tiếng, vì muốn ghi lại triều Lý trải 9 đời vua, kể cả Lý Chiêu-hoàng. (4) Năm 1995, con cháu của Kiến Bình Vương Lý Long Tường, quy tụ hơn trăm người trở về Ðình-bảng, huyện Tiên-sơn, tỉnh Bắc-ninh dự lễ hội làng vào ngày rằm tháng ba Âm-lịch. Tại thiên chi linh, hẳn 9 đời vua triều Tiêu-sơn, cũng như Kiến Bình vương Lý Long Tường đã thỏa nguyện: Những đứa cháu lưu lạc, nay trở về chầu tổ.
|
|
|
|
Các thành viên cảm ơn bài viết của Adonis
|
|

23-02-2008, 08:26 PM
Vị trí: BacBaPhi"s Everlasting Love
Số lần Cảm Ơn: 2,445
Được Cảm Ơn 1,414 lần trong 531 Bài Viết
|
Vì sao Lý Long Tường đến Cao Ly thay vì đến Trung Hoa
Hiện nay, một trong những quốc gia có ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống văn hoá và một phần đời sống kinh tế Việt Nam là Đại Hàn ( Hàn Quốc ). Bật tivi lên, người ta không những thấy đầy dẫy các quảng cáo hàng hoá của Đại Hàn mà còn được xem vô số phim do Đại Hàn, chủ yếu là Nam Hàn, tức Hàn quốc sản xuất. Qua phim ảnh, một số thời trang, từ cách ăn mặc đến các kiểu tóc của Nam Hàn cũng dần dần phổ biến trong xã hội Việt Nam  .
Tuy nhiên cũng có một thứ ảnh hưởng ngược, đó là ảnh hưởng của người Việt Nam trong xã hội Đại Hàn qua cuộc đời và sự nghiệp của một người Việt tị nạn ở Đại Hàn vào thế kỷ 13: hoàng tử Lý Long Tường. Tuy người Việt Nam chúng ta ít biết đến hoàng tử Lý Long Tường, thậm chí, trong một thời gian dài, cả hàng mấy trăm năm, ngay cả giới sử gia cũng không hề nghe nhắc đến tên của ông  , nhưng ở Đại Hàn, Lý Long Tường là một danh nhân  . Bức tượng của ông được dựng uy nghi gần thủ đô Seoul của Hàn Quốc, là nơi du khách từ khắp nơi đến thăm viếng và người dân trong nước đến để tỏ bày lòng ngưỡng mộ..
Tại sao lại có hiện tượng nghịch lý như vậỷ?? Tại sao một người Việt Nam mà lại tạo được sự nghiệp vẻ vang ở nước người như vậy?
Theo những tài liệu mới phát hiện thì hoàng tử Lý Long Tường sống vào thế kỷ 13 và là con thứ của vua Lý Anh Tông (trị vì 1138-1175), em của vua Lý Cao Tông (trị vì 1176-1210), và là chú của vua Lý Huệ Tông (trị vì 1211-1224).
Gọi là tài liệu mới phát hiện là vì những bộ chính sử như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục hoàn toàn không viết về Lý Long Tường, và có thể không biết có Lý Long Tường trong lịch sử  . Chỉ vào nửa sau cuả thế kỷ 20, khi hậu duệ cuả hoàng tử Lý Long Tường về Việt Nam tìm hiểu nguồn cội tổ tiên, thì chúng ta mới biết đến vị hoàng tử nhà Lý mà thôị. Lý Long Tường có thể được xem là một trong những ông tổ vượt biên vì lý do chính trị đầu tiên cuả người Việt Nam   .
Sử sách hoàn toàn không nói đến lý do vì sao Lý Long Tường qua Cao Ly mà không qua Trung Hoa. Trong quyển tiểu thuyết dã sử nhan đề là Hoàng thúc Lý Long Tường của một tác giả Cao Ly, ông Kang Moo Hak, có viết rằng Lý Long Tường qua Trung Hoa, tới Nam Kinh nhưng được biết rằng sứ thần nhà Trần đã qua Nam Kinh xin phong vương, và nhà Tống đã chấp thuận, nên Lý Long Tường thấy không thể ở lại Trung Hoạ. Ông nhờ một người Cao Ly đưa qua nước Cao Ly.
Vì sách của tác giả Cao Ly là một tiểu thuyết dã sử nên ở đây chúng ta không cần cẩn án về các chi tiết. Tuy nhiên có một điểm có thể ghi nhận là Lý Long Tường đã đến Trung Hoa trước khi đến Cao Ly, và có thể ông thấy ở Trung Hoa chưa an toàn, nên ông tiếp tục đi qua Cao Lỵ Ngoài ra, tại sao chúng ta không nghĩ đến một giả thuyết rằng trên cuộc hải trình, Lý Long Tường có thể bị gió bão đẩy đi xa, hoặc thuyền của ông trôi theo dòng nước nóng Kuro Shivo lên tận biển Cao Ly?
Lý Long Tường được xem là một anh hùng Cao Ly vì ông đã giúp vua Cao Ly chống lại hai cuộc xâm lăng của quân Mông Cổ vào các năm 1232 và 1253.
Văn bia dựng ở Thụ Hàng Môn cũng có ghi sơ lược về con cháu của Lý Long Tường. Con cháu ông nhiều người đỗ đạt làm quan. Con ông là Lý Căn, làm Nghệ Văn Đại Đế Học, Kim Tử Quang Lộc Đại Phu; cháu của ông là Lý Huyền Lương giữ chức Lễ Bộ Tham Nghị Thượng Thư; Lý Long Tuyền làm Giám Tu Quốc Sử. Cháu đời thứ 5 là Lý Duy, đời thứ 6 là Lý Mạnh Nghệ được sắp vào hàng 72 danh sĩ ở ẩn vì giữ trung nghĩa, không ra làm quan với kẻ soán nghịch.
Sau khi Cao Ly chia hai năm 1953, hậu duệ họ Lý cũng chia hai. Một nhánh ở lại tỉnh Hoàng Hải, một di cư xuống phía nam vĩ tuyến 38, lập nghiệp ở Hán Thành và ở Đông Hoả, một thành phố ở đông nam Cao Lỵ. Cho đến nay, kể từ Lý Long Tường, họ nầy truyền được 26 đời.
Ông Lý Khánh Huân, đời thứ 25 tính từ Lý Long Tường, từng đến Sài Gòn để tìm về cội nguồn tổ tiên, nhưng không thành công . Năm 1994, ông Lý Xương Căn, con của ông Lý Khánh Huân, tức đời thứ 26, qua Việt Nam, tìm đến bái vọng tổ tiên tại từ đường họ Lý ở làng Đình Bảng, huyện Từ Sơn (Tiên Sơn cũ), tỉnh Bắc Ninh. (Đình Bảng cách Hà Nội 20 cây số về phía đông bắc, trên quốc lộ 1A đi từ Hà Nội đến Bắc Ninh)
|
|
|

20-04-2008, 10:54 PM
Vị trí: BacBaPhi"s Everlasting Love
Số lần Cảm Ơn: 2,445
Được Cảm Ơn 1,414 lần trong 531 Bài Viết
|
Ai thực sự là hậu duệ của Lý Long Tường?
Thời chiến tranh Việt Nam , vào cuối thập niên 50 của thế kỷ XX, quan hệ giữa hai Ông Ngô Đình Diệm và Lý Thừa Vãn khá thân thiết. Tháng 9/1957 ông Diệm đi thăm Đại Hàn dân quốc. Đáp lại, tháng 11/1958 ông Vãn đến thăm Việt Nam. Ngày 16/11/1958 trong buổi tiệc chiêu đãi tại dinh Gia Long, ông Vãn nói rằng tổ tiên ông xưa là người Việt. Báo chí Sài Gòn và phương Tây thời đó đưa tin ồn ã, khá giật gân về sự kiện này. Gần nửa thế kỷ qua đi, các nhà nghiên cứu lịch sử ở ta vô tình dửng dưng với nó.
Phải đến năm 1995, quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc đã cởi mở, ông Lý Xương Căn đem theo gia quyến về Đình Bảng dự lễ tổ, người ta mới đua nhau tìm hiểu, viết bài về hậu duệ các thuyền nhân quí tộc tị nạn đời Lý ở bán đảo Triều Tiên. Song các ý kiến còn nhiều mâu thuẫn bởi chưa đủ thông tin để so sánh, phản biện và quy nạp. Vô tình trong quá trình truy tìm cứ liệu lịch sử để viết bộ ba tiểu thuyết về cải cách xã hội trong lịch sử Việt Nam, tôi đã có cơ hội thu thập, đối chứng các nguồn và lọc ra thông tin khá tin cậy. Nó cho tôi biết hậu duệ của quí tộc họ Lý ở bán đảo Triều Tiên và họ Trần ở Hoa Nam - Trung Quốc. Ở đây chỉ khuôn gọn đôi điều về họ Lý, hy vọng góp vài lời gợi ý cho các sử gia tiếp tục nghiên cứu.
Lý do của sự truy tìm
Tiến tới lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long và để thiết thực giáo dục lịch sử cho thanh thiếu niên - nhi đồng NXB Kim Đồng đã lập tủ sách danh nhân trong lịch sử Việt Nam. Theo gợi ý của nhà sử học Dương Trung Quốc, tủ sách bước đầu giới thiệu 100 danh nhân từ thời Hai Bà Trưng đến thời hiện đại như học giả Đào Duy Anh, nhạc sỹ Văn Cao, Thượng tướng Trần Văn Trà... NXB đã mời khá đông các nhà văn thuộc nhiều thế hệ tham gia viết truyện cho tủ sách này. Mỗi nhà văn khi viết truyện có hướng tiếp cận lịch sử theo chiều cạnh khác nhau. Riêng tôi, khi được mời viết nghĩ rằng, Việt Nam vừa qua 17 năm cải cách và sẽ còn tiếp tục, còn trong quá khứ đã từng có 12 cuộc cải cách (2 cuộc do ngoại bang áp đặt, l0 cuộc do người Việt phát động). Ở góc độ tiếp cận các bài học cải cách xã hội trong lịch sử, tôi chọn ra ba danh nhân ít được nói đều có nhiều mâu thuẫn xã hội và bi kịch đời tư trong cải cách để dựng truyện. Đó là: Trần Thủ Độ (Khói mây Yên Tử - NXB Kim Đồng 4/2002), Đào Duy Từ (Quân sư Đào Duy Từ - NXB Kim Đồng 5/2002) và Khúc Hạo (Giao Châu tụ nghĩa - NXB Kim Đồng 9/2002). Thật ra, để hoàn thành bộ ba tiểu thuyết trên, tôi đã mất 6 năm truy tìm cứ liệu lịch sử. Nhờ công nghệ thông tin, tôi đã có cơ hội tiếp cận kho tư liệu ở nhiều quốc gia Đông - Tây. Qua đó, tôi đã biết được đôi điều về hậu duệ các thuyền nhân qúi tộc tị nạn đời Lý trên bán đảo Triều Tiên. Họ gồm cộng đồng cư dân hàng vạn người thuộc hai nhánh hậu duệ của Kiến Hải vương Lý Dương Côn (1150) và Kiến Bình vương Lý Long Tường (1226). Nhân chứng còn sống hiện ở Bắc Triều Tiên có thể nói chuyện qua email là bác sĩ Lý Chiếu Minh tại Hùng Xuyên (Hun Chon) và bà Lý Diệp Oanh ở Thuận Xuyên (Sun Chon); còn ở Hàn Quốc ngoài Lý Xương Căn, là giáo sư Lý Gia Trung dạy ở Đại học Sơ Un...
Lý Thừa Vãn không phải hậu duệ của Lý Long Tường
Nhiều học giả phương Tây chưa biết đến Lý Dương Côn, chỉ dựa vào lời Tổng thống Lý Thừa Vãn (16/11/1958) ở Sài Gòn rồi quy nạp ông là hậu duệ của Lý Long Tường. Một vài sử gia Việt Nam cũng theo đó bị ngộ nhận. Giáo sư Lý Gia Trung nhận mình là hậu duệ của Kiến Hải Vương Lý Dương Côn có cơ sở xác thực. Dòng họ này theo nghiên cứu của giáo sư Phiến Hoằng Cơ (Pyon - Hong - Ke) có bộ gia phả mang tên “Tinh thiện Lý thị tộc phả” được lưu giữ tại Thư viện quốc gia Hàn Quốc. Ông tổ Lý Dương Côn (Lee - Yang - Kon) là thuyền nhân Việt Nam tị nạn đến bờ biển Đông Nam bán đảo Triều Tiên năm 1150. Đây là hậu quả cuộc tranh giành quyền lực đẫm máu trong nội bộ vương triều nhà Lý, sau khi Lý Nhân Tông chết. Việt sử ghi nhận ông vua anh hùng Lý Nhân Tông không có hoàng nam, đã nhận con của các vương hầu Sùng Hiền, Thành Khánh, Thành Quảng, Thành Chiêu, Thành Hưng vào cung làm con nuôi. Sau khi ngài chết, con của Sùng Hiền hầu là Lý Dương Hoãn kế ngôi, lấy hiệu là Thần Tông. Gian thần Đỗ Anh Vũ nhờ có chị làm hoàng hậu triều vua Thần Tông, đã thâu tóm quyền lực, làm nghiêng ngửa triều chính. Thần Tông chết, chị em nhà họ Đỗ càng ngang ngược lộng hành, áp chế vua trẻ Anh Tông. Vì vậy khi Anh Tông chết, triều đình muốn suy tôn Kiến Hải Vương Lý Dương Côn lên ngôi, nhưng Đỗ Anh Vũ đã ép mọi người chấp nhận chú bé Long Trát 26 tháng tuổi làm vua, hiệu là Cao Tông, để y dễ bề thao túng. Mỗi khi thiết triều hai bà Thái hoàng Thái hậu họ Đỗ và Cảm thánh Thái hậu họ Lê buông rèm nhiếp chính, dung túng cho gian thần Đỗ Anh Vũ làm loạn kỷ cương phép nước. Sử gọi đó là “triều đình gà mái gáy”!... Sự bỉ ổi lên tới cùng mức khi Đỗ Anh Vũ thông dâm với Thái hậu họ Lê và giết chị là Thái hoàng Thái hậu họ Đỗ. Hắn cùng người tình âm mưu cướp ngôi của họ Lý nên đã giết hết tông tộc của các vương hầu: Thành Khánh, Thành Chiêu, Thành Quảng, Thành Hưng. Lý Dương Côn là con trai Thành Quảng hầu, đang giữ chức đô đốc thuỷ quân bèn đem gia quyến lên thuyền vượt biển đi tị nạn sang bán đảo Triều Tiên. Đến đời con ông là Lý Nghĩa Mẫn, dưới triều vua Nghi Tông (Ui - Jong), vì có công đánh giặc Khiết Đan, được phong chức Đô tướng biệt trưởng. Năm 1170, tướng Trịnh Trọng Phụ (Jeong Jung Bu) làm đảo chính, lập vua My Tông (My Jong), Nghĩa Mẫn đã giúp Trọng Phụ đánh dẹp các thế lực chống đối, được phong chức Thượng tướng quân (1174) rồi Tây Bắc bộ binh mã sứ (1178). Sau vụ phiến loạn của tướng Khánh Đại Thăng (1179 - 1182), vua My Tông đã phong ông làm Tể tướng suốt 14 năm (1183 - 1196).
Năm 1196, một võ tướng là Thôi Chung Hiếu (Cho - Chung - Heon) nổi loạn, đã giết Nghĩa Mẫn và các con trai ông đều đang làm tướng là Lý Chính Thuần, Lý Chí Vinh, Lý Chí Quang. Dòng họ Lý này ngỡ tuyệt tự, may còn sót lại người anh của Lý Nghĩa Mẫn trốn thoát. Kể từ đây, chi nhánh hậu duệ trong tộc phả “Lý tinh thiện” ngày một sa sút. Lần dò theo tộc phả này, đến đời Lý Thừa Vãn họ mạc tản mát khắp nơi và sống nghèo túng. Tuổi thơ ông Lý Thừa Vãn chịu nhiều cay đắng, tủi nhục nhưng ông vẫn kiên cường vươn lên. Lúc đầu, ông là chính khách học vấn uyên thâm, có tài năng quân sự và uy tín vượt trội. Lâu dần, cơ chế cực quyền và sự say khát quyền lực vô độ đã biến ông ta thành kẻ độc tài, bảo thủ, ngu muội. Số phận hai nhà độc tài Ngô Đình Diệm và Lý Thừa Vãn có sự khác biệt. Ông Diệm bị lật đổ do chính sách thay ngựa giữa dòng của người Mỹ. Ông Vãn bị lật đổ do xu thế phát triển ở Hàn Quốc đòi hỏi mở rộng dân chủ, cải cách chính sự, đã dấy lên làn sóng bạo loạn trong sinh viên, học sinh, trí thức trẻ. Phe cánh quân sự của Pắc Chung Hi đã lợi dụng cơ hội này làm cuộc đảo chính êm gọn, được lòng dân lúc đó.
Lý Xương Căn là hậu duệ Lý Long Tường từ miền Bắc di cư vào Nam (Hàn Quốc)
Vì Lý Xương Căn, hậu duệ Kiến Bình vương Lý Long Tường từ Hàn Quốc về Đình Bảng dự lễ tổ (1995) nên nhiều học giả ngộ nhận ông Lý Long Tường tị nạn ở miền Nam bán đảo Triều Tiên. Thật ra, hành trình tị nạn của ông năm 1226 khá phức tạp và gian nan hơn Kiến Hải vương Lý Dương Côn. Vua Lý Anh Tông có bảy người con là Long Xưởng, Long Minh, Long Đức, Long Hoà, Long Ích, Long Trát và Long Tường. Hoàng tử Long Trát được Đỗ Anh Vũ đưa lên ngôi lúc 26 tháng tuổi, hiệu là Cao Tông, sau truyền ngôi cho con là Long Sảm hiệu là Huệ Tông. Năm 1226 Trần Thủ Độ lừa giết chết 300 người hoàng tộc họ Lý trong ngày giỗ tổ Lý Công Uẩn ở Đông Ngàn. Vì sự kiện đẫm máu này Huệ Tông phát điên; còn Kiến Bình vương Lý Long Tường vội đem gia quyến và đội thuỷ quân Vân Đồn vượt biển đi tị nạn. Đoàn thuyền lớn này gồm vài ngàn người, lênh đênh trên biển gần một tháng thì gặp bão lớn, phải ghé vào đảo Đài Loan lúc đó hoang vu, thưa vắng người. Ở đó ít lâu, người chết vì đói hoặc say sóng, bệnh tật mất già nửa. Long Tường quyết định đi tiếp, nhưng con trai là Lý Long Hiền ốm nặng, cùng gia đình và 200 thuộc hạ ở lại đảo Đài Loan. Mùa thu năm 1226, sau 75 ngày vượt biển, Long Tường cập bến Phú Lương Giang, quận Khang Linh (Ong - Jin - Gun), tỉnh Hoàng Hải (Hwang - Hac), thuộc Đông Bắc bán đảo Triều Tiên. Toàn bộ đoàn thuyền còn hơn 1000 người sống sót đều lấy họ Lý để tỏ lòng trung thành với Lý Long Tường. Vì vậy hậu duệ của ông sau này ở miền Bắc rất đông đúc, ước đến mấy vạn người, chỉ một số ít di cư vào Nam sau các vụ biến loạn hoặc do chiến tranh.
Tộc phả chép rằng vua Cao Tông (Ko Jong) của nước bản địa cho Lý Long Tường định cư ở đất Ung Tân. Ông bèn xây “Độc thư đường”, “Giảng võ đường” và soạn sách “Học vấn giảng hậu”. Đệ tử của ông học cả văn lẫn võ, đông tới hàng nghìn người. Tháng 7/1253 quân Mông Cổ vượt Hỗn Đồng Giang chiếm Tây Hải, đại phá An Giang Tây thành, uy hiếp kinh đô nước Triều Tiên. Lý Long Tường cùng các con cháu, đệ tử tham gia chống giặc. Ông trở thành quân sư cho Thái uý Vi Hiển Khoan, đánh giặc Mông Cổ nhiều trận oai hùng, hiển hách và đã hy sinh anh dũng. Các triều đại về sau đều suy tôn ông là công thần bậc nhất, lấy tên ngọn núi Hoa Sơn ở quê ông bên đất Việt đặt cho ngọn núi nơi ông cư ngụ ở Bắc Triều Tiên và phong ông là Hoa Sơn Đại tướng quân. Trên núi ấy, vua sai dựng bia đá ghi công lao của Lý Long Tường, đến nay vẫn còn giữ được. Tại quả đồi thuộc xã Đỗ Môn (To Mo Ki), cách núi Hoa Sơn 10km vẫn còn lăng mộ Lý Long Tường và con cháu đến đời thứ tư của ông. Trên Quảng Đại Sơn có “Vọng quốc đài” là nơi ông thường lên đó đăm đắm ngóng về cố quốc. Mỏm đá nơi bờ biển mà ngày đầu ông đặt chân đến Bắc Triều Tiên nay được gọi là “Việt Thanh Nham”...
Căn cứ theo tộc phả họ Lý ở Hoa Sơn, lần theo dấu vết các nhánh họ di cư vào Nam, người ta được biết ông Lý Xương Căn là hậu duệ đời thứ 28 của Lý Long Tường di cư vào Nam (Hàn Quốc) đã qua 5 đời. Còn có một điều lý thú khác, một số học giả nước ngoài đang đặt giả thuyết, liệu Lý Đăng Huy, Tổng thống Đài Loan có phải là hậu duệ của Lý Long Hiền con trai ông Lý Long Tường để lại hoang đảo năm xưa hay không? Điều này thực khó xác định vì họ Lý ở Phúc Kiến di cư sang Đài Loan rất đông, có tới chục vạn người.
|
|
|
|
Các thành viên cảm ơn bài viết của Adonis
|
|

31-07-2010, 09:35 AM
|
Lính trơn
Số lần Cảm Ơn: 0
Được Cảm Ơn 0 lần trong 0 Bài Viết
|
|
|
|

23-08-2010, 11:51 AM
|
Lính trơn
Số lần Cảm Ơn: 0
Được Cảm Ơn 0 lần trong 0 Bài Viết
|
Trích:
Nguyên văn bởi thachdaigai
|
Bạn ơi bạn lên nhà sách sự thật ở đường Hàm Nghi Q1 đó bạn, đợt mới ra cuốn sách này mình mua ở đó, hy vọng bây giờ nó vẫn còn.
|
|
|
| Ðiều Chỉnh |
|
|
| Xếp Bài |
Linear Mode
|
Quyền Hạn Của Bạn
|
Bạn không được quyền gởi bài
Bạn không được quyền gởi trả lời
Bạn không được quyền gởi kèm file
Bạn không được quyền sửa bài
HTML đang Tắt
|
|
|
Phiên bản vBulletin Version 3.6.8 Bản quyền 2000 - 2010, Thuộc về Đại Gia đình BacBaPhi's.
|