+ Trả Lời Ðề Tài + Gởi Ðề Tài Mới
Trang 1/3 1 2 3 cuốicuối
kết quả từ 1 tới 20 trên 44

Ðề tài: Giải Thích Ca Dao và Tục Ngữ

Share/Bookmark
  1. #1
    加 明 不 子 Tấm Lòng Vàng: 0 Гамин's Avatar
    Tham gia ngày
    Jul 2004
    Bài gởi
    2,043
    Tài sản (Vàng)
    382,390
    Say 'Thank You!' for this post. :
    1 For This Post
    144 tổng số
    Cảm Ơn
    17
    Được Cảm Ơn 65 lần trong 49 Bài Viết
    Vàng
    382,390

    Giải Thích Ca Dao và Tục Ngữ

    Để độc giả có đủ tài liệu để giảng giải cho em cháu chúng tôi cố gắng sưu tầm những bài giải thích những ẩn dụ của Ca Dao và Tục Ngữ. Chúng tôi mong mỏi quý vị giúp chúng tôi những bài viết của quý vị hoặc trích từ các link mà quý vị tìm thấy chúng tôi hết lòng cảm tạ

    Hiện chúng tôi có các trang sau đây (theo ABC)
    Ba Que Xỏ Lá
    Bạch Diện Thư Sinh
    Bắt Cá Hai Tay
    Bát Trân
    Bầu Dục Chấm Mắm Cáy
    Buôn Tảo Bán Tần
    Cả Vú Lấp Miệng Em
    Cao Biền
    Cáo Mượn Oai Hùm
    Chạy Như Cờ Lông Công
    Chết đứng Như Từ Hải
    Chơi Chim
    Có Công Mài Sắt, Có Ngày Nên Kim
    Con Cóc là Cậu Ông Trời
    Con số 4
    Công Tử Bạc Liêu
    Công Tử Bột
    Đa Nghi Như Tào Tháo
    Đánh Trống Bỏ Dùi
    Dây Tơ Hồng
    Dở Dở Ương Ương
    Gái Quạt Mồ
    Giá Áo Túi Cơm
    Già Kén Kẹn Hom
    Giấc Mộng Nam Kha
    Há Miệng Chờ Sung
    Hoa Quế Giữ Rừng
    Hồng Hồng Tuyết Tuyết
    Hương Lửa Ba Sinh
    Lá Thắm Chỉ Hồng
    Lấp Biển
    Mài Dao Dạy Vợ
    Môn Đăng Hộ Đối
    Tứ Linh (Rồng, Lân, Rùa và Chim Phượng)
    Năm Tao Bảy Tiết
    Ông Già Ba Tri
    Ông Táo
    Sao Hôm
    Sư Tử Hà Đông
    Thần Tài
    Thằng Bờm
    Tết Tiết
    Tiền Cheo
    Tiền Quan Thuở Xưa
    Truông Nhà Hồ, Ngại Phá Tam Giang
    Tứ Hỉ
    Vắng Như Chùa Bà Đanh
    Xôi Hỏng Bỏng Không

    Xem thêm::

     
    Trả Lời Với Trích Dẫn Trả Lời Với Trích Dẫn
    Thích
    Tặng Vàng  

  2. Người THÍCH điều này:

    ngovinhloi (13-12-2012)

  3. #2
    加 明 不 子 Tấm Lòng Vàng: 0 Гамин's Avatar
    Tham gia ngày
    Jul 2004
    Bài gởi
    2,043
    Tài sản (Vàng)
    382,390
    Say 'Thank You!' for this post. :
    1 For This Post
    144 tổng số
    Cảm Ơn
    17
    Được Cảm Ơn 65 lần trong 49 Bài Viết
    Vàng
    382,390
    Há Miệng Chờ Sung


    Tục ngữ đã dạy: “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”. Vậy mà cũng có kẻ chẳng muốn làm, chỉ chực chờ ăn. Hắn ta nổi tiếng lười biếng. Cái danh ''đại lãn'' quả là rất xứng đáng. Đại lãn chờ sung há chẳng phải là một sự kiện nổi tiếng đó sao?

    Một ngày nọ, hắn đến bên một cây sung to. Chao ôi, bao nhiêu là quả chín! Lại nữa, thỉnh thoảng một quả rơi xuống bên gốc cây. Hắn nghĩ ngay ra một diệu kế. Cần phải nằm ngửa, há to miệng, thế nào cũng có quả rơi đúng miệng. Lúc đó, hắn sẽ nhai ngon lành, mà chẳng cần phải hoài công leo trèo, hái lượm gì… Nhiều quả sung lần lượt rơi chung quanh mình, nhưng chẳng có một quả nào rơi vào miệng hắn. Vừa đói, vừa mệt, hắn đành nuốt nước bọt thất vọng đứng dậy. Thành ngữ ''Há miệng chờ sung” hay “Đại lãn chờ sung” chắc là xuất phát từ câu chuyện này.

    Với thành ngữ ''Há miệng chờ sung”, nhân dân ta nhằm đả kích những kẻ lười biếng chực ăn sẵn bằng cầu may.
     
    Trả Lời Với Trích Dẫn Trả Lời Với Trích Dẫn
    Thích
    Tặng Vàng  

  4. Người THÍCH điều này:

    ngovinhloi (13-12-2012)

  5. #3
    加 明 不 子 Tấm Lòng Vàng: 0 Гамин's Avatar
    Tham gia ngày
    Jul 2004
    Bài gởi
    2,043
    Tài sản (Vàng)
    382,390
    Say 'Thank You!' for this post. :
    1 For This Post
    144 tổng số
    Cảm Ơn
    17
    Được Cảm Ơn 65 lần trong 49 Bài Viết
    Vàng
    382,390
    ĐA NGHI NHƯ TÀO THÁO

    Ở nước Trung Hoa thời Tam Quốc có viên quan Thừa tướng nổi tiếng đa nghi họ Tào, tên Tháo.

    Hắn đa nghi đến mức không tin bất kì ai trên đời dù người đó là tướng có tài hay người lính đã hết lòng phục vụ và bảo vệ hắn. Có một lần Tào Tháo đem quân đi chinh phạt nhà Thục. Quân Thục chống trả quyết liệt và cố thủ vững chắc. Cuộc chiến kéo dài, quân Tào mệt mỏi, tiến thoái lưỡng nan. Thấy tình thế khó nuốt được Thục, Tào bèn ban mật khẩu “Kê cân”. Một tướng giỏi của Tào là Dương Tu nghe lỏm được, liền truyền lệnh cho quân sĩ thu xếp hành trang, chuẩn bị rút. Thấy lạ, quân tả hữu liền hỏi:
    - Tại sao tướng quân lại cho quân rút sớm vậy?

    Dương Tu đáp:
    - Quan Thừa tướng đã ban mật khẩu “Kê cân” (nghĩa là gan gà) ý muốn nói ăn không được, vứt thì tiếc. Vậy việc rút quân chỉ nay mai thôi.

    Biết chuyện này, Tào Tháo khép tội Dương Tu là tiết lộ việc quân cơ, đem ra chém đầu. Nhưng đó chỉ là cái cớ. Cái chính là Tào Tháo biết Dương Tu là tướng có tài, chuyện gì cũng đoán biết được trước nên phải tìm cách hạ sát để trừ hậu họa. Tào Tháo còn là người đa mưu, nhưng vẫn rất sợ quân lính làm phản và bọn thích khách ám hại. Để đề phòng mọi bất trắc có thể xảy ra, hắn ra lệnh: Đêm ta ngủ thường mơ nơi trận mạc, tung hoành đao kiếm, đừng ai đến gần mà thiệt mạng. Một hôm, đang ngủ say, bỗng hắn trở mình, chăn rơi xuống đất. Tên lính hầu canh cửa thấy vậy bèn rón rén đến bên giường nhặt chăn lên đắp lại cho chủ tướng. Tào Tháo vùng phắt dậy rút ngay gươm đã thủ sẵn ở đầu giường chém người lính rồi lại nằm ngủ tiếp. Hành động chém giết tàn bạo của y không chỉ là lời răn đe khắc nghiệt đối với quân lính mà còn bộc lộ bản chất hay ngờ vực, hay nghi kị đến mức điển hình của một tính cách. Từ đó, tính cách của y đã được khái quát gọn trong năm chữ: Đa nghi như Tào Tháo.
     
    Trả Lời Với Trích Dẫn Trả Lời Với Trích Dẫn
    Thích
    Tặng Vàng  

  6. Người THÍCH điều này:

    ngovinhloi (13-12-2012)

  7. #4
    加 明 不 子 Tấm Lòng Vàng: 0 Гамин's Avatar
    Tham gia ngày
    Jul 2004
    Bài gởi
    2,043
    Tài sản (Vàng)
    382,390
    Say 'Thank You!' for this post. :
    1 For This Post
    144 tổng số
    Cảm Ơn
    17
    Được Cảm Ơn 65 lần trong 49 Bài Viết
    Vàng
    382,390
    Dở Dở Ương Ương


    Trong tiếng Việt, khi nói về những người có tính khí không bình thường, không ra khôn mà cũng chẳng ra dại, người ta nói đó là người “dở dở ương ương”:

    “Khôn cho người ta sợ, dại cho người ta thương, dở dở ương ương cho người ta ghét”
    (tục ngữ )

    Cũng như nhiều thành ngữ khác trong tiếng Việt, thành ngữ dở dở ương ương được hình thành bằng ghép láy hai từ dở và ương đi liền nhau.

    Nếu chấp nhận rằng có một sự chuyển nghĩa từ dở trong khế dở (khế không ra ngọt mà cũng không ra chua) đến dở trong dở người từ ương trong ổi ương đến ương trong ương gàn, ương ngạnh v.v… thì cũng có thể chấp nhận có hai cách giải thích của thành ngữ dở dở ương ương.

    Với nghĩa gốc, dở là ở trạng thái chưa xong, chưa kết thúc; còn ương biểu thị cái trạng thái của trái cây gần chín, cái trạng thái chưa chín hẳn, nhưng cũng chẳng còn xanh nữa! Có thể nói dở và ương đều có một nét nghĩa chung là ở trạng thái chưa kết thúc của quá trình, ở trạng thái nửa vời, không ra thế nọ mà cũng chẳng ra thế kia.

    Từ đó, với nghĩa bóng, nghĩa rộng, thành ngữ dở dở ương ương thường được dùng để biểu thị tính cách của những người khôn chẳng ra khôn mà dại chẳng ra dại. Dĩ nhiên cái tính cách, phẩm chất này lại thường thể hiện ở cách nói năng, cách ứng xử, thí dụ:

    “Ấy cũng chỉ vì trên đầu có hai thứ tóc nên mới ăn nói dở dở ương ương như thế”.
    (Tạp chí văn nghệ 1-1967)

    “Gọi là Đạo Khùng vì ông dở dở ương ương lúc cười nói huyên thuyên, lúc im hơi lặng tiếng, khi thì đon đả hỏi chuyện khách viếng thăm, vui vẻ trả lời các câu hỏi, lúc lì lì hoặc gắt gỏng, xua đuổi người đến thỉnh cầu như xua tà”
    (Khoa học bịp).

    Với nghĩa chuyển, dở được dùng để biểu thị tính khí không bình thường, được biểu hiện bằng những hành vi ngớ ngẩn, còn ương là “gàn”, cứ theo ý mình, không chịu nghe ai” (Từ điển tiếng Việt, 1988). Như vậy thì việc giải thích dở dở ương ương là thành ngữ biểu thị tính cách của con người không bình thường, khôn chẳng ra khôn, dại chẳng ra dại cũng là cách giải thích có thể chấp nhận được. Trong trường hợp này, thì nghĩa của dở dở ương ương được hình thành từ nghĩa chuyển của dở và ương, chứ không phải từ nghĩa gốc của hai từ này.
    thay đổi nội dung bởi: Гамин, ngày 01-09-2004 lúc 08:10 AM
     
    Trả Lời Với Trích Dẫn Trả Lời Với Trích Dẫn
    Thích
    Tặng Vàng  

  8. Người THÍCH điều này:

    ngovinhloi (13-12-2012)

  9. #5
    加 明 不 子 Tấm Lòng Vàng: 0 Гамин's Avatar
    Tham gia ngày
    Jul 2004
    Bài gởi
    2,043
    Tài sản (Vàng)
    382,390
    Say 'Thank You!' for this post. :
    1 For This Post
    144 tổng số
    Cảm Ơn
    17
    Được Cảm Ơn 65 lần trong 49 Bài Viết
    Vàng
    382,390
    MÔN ĐĂNG HỘ ĐỐI

    Trong chế độ phong kiến, đôi lứa kết duyên, nên vợ nên chồng đâu chỉ vì tình yêu của họ, đâu phải vì “đôi lứa xứng đôi”. Cái quan trọng, cái cốt lõi trong hôn nhân thời ấy là môn đăng hộ đối, tức là hai gia đình thông gia phải có sự ngang nhau về nhà cửa, của cải, và tương đương nhau về địa vị xã hội:

    “Phú ông một hôm mắng em và bảo: “Bao nhiêu đám môn đăng hộ đối không lấy, phải chăng muốn lấy con nhà chùa?”
    (Nguyễn Đổng Chi. “Kho tàng chuyện cổ tích Việt Nam”).

    Môn đăng hộ đối trước hết là tương xứng về nhà cửa, gia thế. Các yếu tố môn, hộ có nghĩa là “cửa, nhà”, các yếu tố đăng, đối được tách ra từ tổ hợp đăng đối với nghĩa là “ngang bằng, đối hợp nhau”. Vậy là, từ chỗ so sánh rất cụ thể về cái nhà, cái cửa, thành ngữ môn đăng hộ đối được mở rộng nghĩa để chỉ gia thế, địa vị xã hội giữa hai bên. Đôi lứa, duyên số phù hợp nhau, xứng đáng kết tóc xe tơ chỉ khi địa vị gia đình họ ngang bằng nhau:

    Xã hội phong kiến không chấp nhận những câu chuyện tình giữa các đôi lứa thuộc đẳng cấp chênh lệch nhau:

    “Một công tử con quan tể tướng lại lấy một cô gái lái đò làm vợ thì còn đâu là môn đăng hộ đối!”
    (“Giai thoại Thăng Long”).

    Biến thể của thành ngữ môn đăng hộ đối là môn đương hộ đối. Dạng thức này có ý nghĩa và cách dùng tương tự như môn đăng hộ đối.

    “Ừ, em vua nước Tây làm rể hoàng đế nước Nam, môn đương hộ đối như thế, tưởng cũng không mấy người có được”
    (Danh nhân Hà Nội).
     
    Trả Lời Với Trích Dẫn Trả Lời Với Trích Dẫn
    Thích
    Tặng Vàng  

  10. Người THÍCH điều này:

    ngovinhloi (13-12-2012)

  11. #6
    加 明 不 子 Tấm Lòng Vàng: 0 Гамин's Avatar
    Tham gia ngày
    Jul 2004
    Bài gởi
    2,043
    Tài sản (Vàng)
    382,390
    Say 'Thank You!' for this post. :
    1 For This Post
    144 tổng số
    Cảm Ơn
    17
    Được Cảm Ơn 65 lần trong 49 Bài Viết
    Vàng
    382,390
    Cả vú lấp miệng em

    Nhiều bà mẹ, khi nghe trẻ khóc, không cần dỗ dành, vỗ về, nựng nịu gì cả mà lập tức dùng bầu vú sữa sẵn có trên mình để lấp miệng đứa bé. Nhờ được bú tí mẹ, đứa trẻ không còn khóc nữa. Mới hay là, với đứa bé, bầu vú của mẹ có thế mạnh và ứng nghiệm trông thấy.

    Cái hiện tượng bình thường mà chúng ta vẫn gặp, vẫn thấy hàng ngày được dân gian khai thác và khái quát thành câu cả vú lấp miệng em để chỉ hiện tượng dùng quyền lực, thế mạnh của mình để chèn ép, lấn át kẻ khác.

    Về xuất xứ và ý nghĩa chung của thành ngữ cả vú lấp miệng em như thế là đã rõ. Tuy nhiên, ở thành ngữ này, chúng ta cần quan tâm đến một số điểm khá lý thú về mặt chữ và nghĩa.

    ở đây là bầu sữa mẹ, được dùng để biểu trưng cho thế mạnh, cho sự lợi thế, trong khi đó em vừa là từ xưng gọi em bé, vừa là từ biểu trưng cho người cấp dưới, người yếu thế hơn. Miệng trong thành ngữ đang xét không chỉ là miệng ăn, miệng bú mà còn là miệng nói. Vì thế, miệng được biểu trưng cho lời nói, cho ý kiến, đề nghị, phê bình phản đối của người khác đối với người trên. Còn lấp là hành động che, bịt lại, không cho lộ ra, không cho phát ngôn, không cho nói. Ở trong thành ngữ này, riêng từ cả là ít giá trị biểu trưng nhất, nhưng lại hơi khó hiểu. Nhiều người đã hiểu cả trong cả vú lấp miệng em có chức năng chỉ gộp, chỉ tổng thể với nghĩa là “tất cả, toàn bộ”, như trong cả nhà, cả bản, cả con gà,… Nhưng cách hiểu này là không chính xác. Thực ra, cả trong thành ngữ này có ý nghĩa là “to, lớn”, như nghĩa của cả trong đũa cả, cả lưng rộng háng, cả hơi lớn tiếng,… Sự giao kết nghĩa của các yếu tố, nhất là nghĩa biểu trưng của chúng đã tạo thành câu cả vú lấp miệng em nhằm hàm chỉ một thói xấu của người đời là hay ỷ vào thế lực, sức mạnh để chèn ép, lấn át người kém mình về thế lực và địa vị trong cuộc sống.
     
    Trả Lời Với Trích Dẫn Trả Lời Với Trích Dẫn
    Thích
    Tặng Vàng  

  12. Người THÍCH điều này:

    ngovinhloi (13-12-2012)

  13. Các thành viên cảm ơn bài viết của Гамин

    ngovinhloi (13-12-2012)

  14. #7
    加 明 不 子 Tấm Lòng Vàng: 0 Гамин's Avatar
    Tham gia ngày
    Jul 2004
    Bài gởi
    2,043
    Tài sản (Vàng)
    382,390
    Say 'Thank You!' for this post. :
    1 For This Post
    144 tổng số
    Cảm Ơn
    17
    Được Cảm Ơn 65 lần trong 49 Bài Viết
    Vàng
    382,390
    Lấp biển vá trời

    Làm sao có thể lấp biển được trong khi trái đất này có tới ba phần tư là biển!

    Còn công việc vá trời lại càng không thể có, nói chi đến việc làm được hay không làm được! Một bà Nữ Oa gánh đá vá trời cũng chỉ là một câu chuyện thần thoại đầy tính hoang đường, kỳ diệu của nó. Tuy nhiên trong nhận thức của dân gian công cuộc vá trời lấp biển là một công cuộc lớn lao siêu việt. Do đó, thành ngữ vá trời lấp biển được dùng để chỉ hành động phi thường, vĩ đại, biểu hiện xu thế và sức mạnh của ý chí, hoài bão lớn lao của con người.

    Trong sự đánh giá của nhân dân ta, đôi khi cái chuyện vá trời lấp biển không còn là công chuyện to lớn, phi thường nữa, mà chỉ là chuyện khoác lác, viển vông, không thực tế.
    "Mặc kệ gia đình và những cái gì còn lại!.... Hắn sẽ uống rất khoẻ và nói toàn những chuyện vá trời lấp biển rồi đi la cà đến hết đêm mới về"
    (Nam Cao "Truyện ngắn").

    Thành ngữ vá trời lấp biển còn có biến thể lấp biển vá trời. Thí dụ:
    "Ông định lấp biển vá trời à, ông chủ nhiệm ơi? Trước đây ba mươi nhăm năm, có người đã chịu thua rồi"
    (Chu Văn "Bão biển").

    Gần nghĩa với thành ngữ vá trời lấp biển, là các thành ngữ dời non lấp biển, xẻ núi ngăn sông...
    thay đổi nội dung bởi: Гамин, ngày 01-09-2004 lúc 08:20 AM
     
    Trả Lời Với Trích Dẫn Trả Lời Với Trích Dẫn
    Thích
    Tặng Vàng  

  15. Người THÍCH điều này:

    ngovinhloi (13-12-2012)

  16. #8
    加 明 不 子 Tấm Lòng Vàng: 0 Гамин's Avatar
    Tham gia ngày
    Jul 2004
    Bài gởi
    2,043
    Tài sản (Vàng)
    382,390
    Say 'Thank You!' for this post. :
    0 For This Post
    144 tổng số
    Cảm Ơn
    17
    Được Cảm Ơn 65 lần trong 49 Bài Viết
    Vàng
    382,390
    Năm tao bảy tiết (tuyết)

    Trong tiếng Việt để diễn tả ý nhiều lần gặp lại (của một sự việc nào đó), người ta thường dùng thành ngữ năm tao bảy tiết (tuyết)

    "Phần nhiều kéo nhau đến đây là hạng tứ bất tử cả đấy. Trốn chúa lộn chồng năm tao bảy tiết, ba chìm năm nổi chín lênh đênh, vỡ nợ tam tứ từng"
    (Nguyễn Tuân "Sông Đà").

    Tao ở đây là "lần", "lượt", "phen" và tiết (tuyết) là chỉ hình thức đối xứng về mặt ngữ âm trong thành ngữ cùng với các số từ quen thuộc nămbảy để diễn đạt, biểu thị cái ý "nhiều lần', "nhiều bận".

    Thường thì thành ngữ trên được dùng khi muốn nói về một sự tái diễn nhiều lần mà thường không toại nguyện người trong cuộc.

    "Chờ mãi anh sang anh chả sang
    Thế mà hôm nọ hát bên làng
    Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn
    Để cả mùa xuân cũng bẽ bàng".

    (Nguyễn Bính "mưa xuân")

    Với ý nghĩa này, thành ngữ trên đồng nghĩa với cách nói năm lần bảy lượt.

    Trong sử dụng, có khi thành ngữ năm tao bảy tiết phát sinh những nét nghĩa mới tuỳ hoàn cảnh nói năng. Có khi nó hàm nghĩa "nhiều, ở mức độ lớn".

    "Mẹ chỉ biết, thương chồng thì lo cho chồng năm tao bảy tiết, thương con, mẹ lo cho con chẳng kể nắng mưa"

    Có khi năm tao bảy tiết (tuyết) còn hàm nét nghĩa "vất vả, phải làm đi làm lại nhiều lần":

    "Bên anh chăn nuôi thế nào chứ ở đây thật là năm tao bảy tuyết đấy. Được cái khoản cung cấp lợn giống với cung cấp thịt cho nhà nước nhìn cũng tươm".
    (Nhiều tác giả "Hội thi").
     
    Trả Lời Với Trích Dẫn Trả Lời Với Trích Dẫn
    Thích
    Tặng Vàng  

  17. #9
    加 明 不 子 Tấm Lòng Vàng: 0 Гамин's Avatar
    Tham gia ngày
    Jul 2004
    Bài gởi
    2,043
    Tài sản (Vàng)
    382,390
    Say 'Thank You!' for this post. :
    0 For This Post
    144 tổng số
    Cảm Ơn
    17
    Được Cảm Ơn 65 lần trong 49 Bài Viết
    Vàng
    382,390
    Sư tử Hà Đông

    Thoạt nghe, không ít người nghĩ rằng, trong nội dung câu thành ngữ “Sư tử hà Đông” có điều gì đó liên can đến đất Hà Đông xưa của Việt Nam. Chuyện thực lại không phải như vậy. Chẳng ra là chuyện “râu ông nọ cắm cằm bà kia”.

    Số là, ở đất Vĩnh Gia bên Trung Quốc đời nhà Tống có một người đàn ông tính nết thất thường, họ Trần tên Tháo, tự là Quý Thường. Lúc còn nhỏ, Tháo rất thích chơi trò đấu kiếm và nghe kể chuyện về các anh hùng hảo hán một cách say mê, khâm phục.

    Lớn lên Tháo thích lân la đến bên các chí sĩ giang hồ để học hỏi các môn võ nghệ và cùng họ ngao du nay đây mai đó. Tháo cũng tự liệt mình vào cùng một hạng với những bậc chí sĩ kia và lúc nào cũng tỏ ra sẵn lòng làm việc nghĩa, giúp bạn, cứu người.

    Lạ thay vừa bước sang tuổi trung niên Trần Tháo bỗng thay tính đổi nết. Tháo chán ghét cuộc sống giang hồ và lạc vào văn chương, chữ nghĩa và lui về sống ẩn dật. Trần Tháo thường cùng Tô Thức luận bàn về bút pháp và sự thành bại của cổ kim, rất thích đạo Phật, đã từng ăn rau, ở chùa, không màng gì đến thế sự. Vợ Tháo là Liễu Thị, tính hung hãn, hay ghen. Mỗi lần Tháo mở tiệc mời khách, nếu có ca kỹ đến hát xướng mua vui thì Liễu Thị ở nhà trong, máu ghen nổi lên, lấy gậy đánh sàn sạt vào tường, gầm thét om sòm, khách không chịu nổi phải bỏ ra về. Tô Thức nhân đấy có thơ đùa Trần Tháo rằng:

    Đánh ghen -tranh Đông Hồ

    Thùy tự Long Khâu cư sĩ hiền
    Đàm không thuyết hữu dạ bất miên
    Hốt văn Hà Đông sư tử hống
    Trụ trượng lạc thủ tâm mang nhiên


    Dịch nghĩa:
    Ai hiền như cư sĩ đất Long Khâu
    Bàn về thuyết không thuyết có của nhà Phật đêm không ngủ
    Bỗng nghe sư tử Hà Đông rống lên
    Gậy chống rơi khỏi tay, lòng bàng hoàng quên phắt đi hết

    Câu thơ trên dựa theo câu thơ của Đỗ Phủ (nhà Đường)

    Hà Đông nữ nhi thâm tính Liễu
    (người con gái đất Hà Đông tên Liễu)

    Tô Thức mượn chữ Hà Đông để chỉ Liễu Thị, vợ Tháo. Còn sư tử hống là tiếng Phật dùng để nói về sự uy nghiêm của Phật tổ, nói giọng thuyết pháp của Phật âm thanh chấn động thế giới như sư tử gầm. nay Trần tháo thích đàm luận đạo Phật, Tô Thức bèn mượn tiếng nhà Phật để đùa, chỉ cái tính hung hãn hay ghen của Liễu Thị.

    Từ tích trên, trong tiếng Việt, thành ngữ “sư tử Hà Đông” nhằm ám chỉ những người phụ nữ có tính ghen tuông dữ tợn, khi nổi máu tam bành có thể làm cho các đức ông chồng kinh hồn, táng đởm khiến bao dũng khí của giới mày râu tiêu tan thành mây khói cả.

    (Theo “Truyện Kiều” và “Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ”)
    thay đổi nội dung bởi: Гамин, ngày 01-09-2004 lúc 11:08 PM
     
    Trả Lời Với Trích Dẫn Trả Lời Với Trích Dẫn
    Thích
    Tặng Vàng  

  18. #10
    加 明 不 子 Tấm Lòng Vàng: 0 Гамин's Avatar
    Tham gia ngày
    Jul 2004
    Bài gởi
    2,043
    Tài sản (Vàng)
    382,390
    Say 'Thank You!' for this post. :
    0 For This Post
    144 tổng số
    Cảm Ơn
    17
    Được Cảm Ơn 65 lần trong 49 Bài Viết
    Vàng
    382,390
    Chạy như cờ lông công

    Lính thú ngày xưa

    Cờ là biểu tượng cho một quốc gia, một dân tộc, một tổ chức, một ngành nghề, thậm chí còn là tín hiệu cho một mệnh lệnh. Cờ thường được làm bằng vải nhưng cũng có khi bằng lông chim, lông thú, đôi khi còn được làm bằng cành cây giống như cờ bằng bông lau của Đinh Bộ Lĩnh ngày trước.

    Cờ lông công trong thành ngữ “chạy như cờ lông công” là cờ làm bằng lông con công. Đây là loại cờ hiệu của những người lính trạm xưa kia, thường dùng khi chạy công văn hỏa tốc.

    Ngày nay, ngoài việc truyền đạt các mệnh lệnh, công văn bằng các phương tiện thông tin vô tuyến, hữu tuyến, người đưa tin còn được sử dụng các phương tiện giao thông khác như máy bay, ô tô, xe lửa…

    Nhưng ngày xưa, công việc này chỉ được thực hiện nhờ sức người và sức ngựa. Vì vậy, nhà nước phong kiến mới đặt ra các trạm và tuyển mộ các loại lính trạm, phu trạm. Từ trạm nọ đến trạm kia là một cung đường. Thông thường, người lính trạm khi chạy công văn hỏa tốc phải vượt hai đến ba cung đường trong một ngày. Người đời nhìn thấy cờ hiệu lông công của những người lính trạm ở khắp các nẻo đường của Tổ quốc. Bao giờ họ cũng vội vàng, tất tả, người chạy đi, kẻ chạy lại, cả người cả ngựa đều đẫm mô hôi. Công văn vừa chuyển đi lại có công văn khác đến. Sự đan chéo, liên tục của các công văn, mệnh lệnh tạo nên sự đan chéo, dồn dập của những lá cờ hiệu lông công. Vì vậy, “chạy như cờ lông công” trước hết được hiểu là “chạy rối rít, chạy loạn xạ”


    Lính ngày xưa

    Nhưng có lẽ cũng từ một thực tế là những người mang cờ hiệu lông công mặc dù chạy ngược xuôi rối rít nhưng chẳng phải là để vận chuyển hàng hóa nặng nhọc gì. Với con mắt người đời, đấy là một việc làm không cần thiết. Còn tính khẩn cấp của công văn lại cũng chẳng liên quan gì đến họ.

    Có lẽ vì lẽ đó mà thành ngữ ”chạy như cờ lông công” còn có một sắc thái nghĩa nữa là “chạy rông, chạy rối rít, chạy không đạt kết quả gì”.
    thay đổi nội dung bởi: Гамин, ngày 02-09-2004 lúc 09:31 PM
     
    Trả Lời Với Trích Dẫn Trả Lời Với Trích Dẫn
    Thích
    Tặng Vàng  

  19. #11
    加 明 不 子 Tấm Lòng Vàng: 0 Гамин's Avatar
    Tham gia ngày
    Jul 2004
    Bài gởi
    2,043
    Tài sản (Vàng)
    382,390
    Say 'Thank You!' for this post. :
    0 For This Post
    144 tổng số
    Cảm Ơn
    17
    Được Cảm Ơn 65 lần trong 49 Bài Viết
    Vàng
    382,390
    Quế và người

    Cây quế

    Rất nhiều câu thơ hay của Việt Nam gắn với những hình ảnh, sự vật cụ thể của làng quê xứ sở. Nếu như thơ cổ điển lấy đề tài tùng, cúc, trúc, mai thì ca dao dân ca lại hay nói đến đường làng, giếng nước, hạt mưa, bến đò, dòng sông, cây đa, cây lúa…Điều bất ngờ là chúng ta còn có những câu thơ khá hay về cây quế.

    Bất ngờ vì quế không phải là thứ cây có thể dễ gặp hàng ngày. Sống ở đồng bằng, ở phố phuờng, trước đây đã mấy ai trông thấy quế mà viết về cây quế:

    Em như cây quế giữa rừng
    Thơm tho ai biết, ngát lừng ai hay.


    Quế phần lớn sống ở rừng nhiệt đới và á nhiệt đới, vỏ tinh dầu chứa vị thơm cay dùng làm dược liệu quý. Phẩm chất đặc biệt của cây quế là ở chất dầu thơm, là vị cay kích thích nhưng đáng chú ý hơn là phẩm chất lẽ ra chỉ có ở loài người chứ không phải ở loài cây:

    Ở sao như quế trên rừng
    Thơm không ai biết, ngát đừng ai hay



    Hoa quế

    Hai câu thơ chỉ khác nhau một chữ nhưng nội dung ý nghĩa đã có thể rất xa nhau. Nếu như câu trên, đừng để cho ai biết cái thơm cái ngát của mình – diễn đạt cái ý không cần phải lộ ra phẩm chất bên trong, là cách giữ gìn ý tứ của một người tự biết cái giá của mình, thì câu thơ dưới lại có thể thiên về cái ý muốn bưng bít, giấu kín bản thân – không để cho ai được mình cay hay ngọt – như một lối sống khôn ngoan giữ mình. Dù sao thì ngọt, thơm, cay vẫn là phẩm chất có thật của quế, hữu ích đối với con người. Một phẩm chất tinh thần khác nữa của quế được khám phá là sự gắn bó với cội rễ, lòng chung thủy trước sau như một. Hãy sống được như cây quế trên non cao:

    Ở sao như quế trên non
    Trăm năm khô rụi, vỏ còn dính cây


    Sắc hương và phẩm chất cao quý của quế là kết quả của một quá trình khám phá và khẳng định. Chẳng thế mà không thiếu kẻ so bì, dèm pha với quế. Ở đời, ai cao quý tốt đẹp mà không có lúc phải chịu tiếng dèm pha:


    Vỏ quế

    Xin đừng thấy quế phụ hương
    Quế già, quế rụi, hương trường thơm xa.


    Hay:

    Anh đừng tham cái bông quế
    Bỏ phế cái bông lài,
    Mai sau quế rụng
    Bông lài thơm xa…


    Song dèm pha để mà dèm pha thôi, chẳng có căn cứ cơ sở gì đáng kể. Hương với lài mà lại chỉ chực hơn quế khi "quế già quế rụi" và cũng chỉ được cái “thơm xa”.

    Nói quế, chẳng qua là để nói người. Tình nghĩa gắn bó giữa người với người được lấy quế ra làm ẩn dụ:

    Hai ta đang nhớ đang thương
    Ai về phân quế rẽ hương cho đành…


    Thậm chí có khi bộc lộ nỗi niềm, than thở với quế như với bạn tri âm tri kỷ:

    Tay cầm nhành quế mà than
    Tuổi xuân xanh không gặp bạn, hội hoa tàn gặp nhau


    Hoa tàn mà cũng có thể là “hội” được ư? Hội gì lại có hội hoa tàn, thật là đau đớn! Cái đau đớn của câu thơ không phải do tiếng “than” mà do ở tiếng “hội” lạ lùng này. Và nỗi đau dường như nhói sâu thêm vì có quế.

    Một khi đã rời gốc đi theo người, giúp ích cho người, làm sao quế còn giữ được cành tươi:

    Nâng cành quế héo trên tay
    Càng thương quế ngọt quế cay cùng người


    Cảm động xiết bao khi biết quế đã cùng ta từng ngọt ngào, cay đắng. Câu thơ trên viết về quế, về tấm lòng son sắt thủy chung của quế - một thứ cây rừng. Và chung quy nói quế vẫn là để nói người.

    (Trích “Một sợi rơm vàng” – Đào Thản)
     
    Trả Lời Với Trích Dẫn Trả Lời Với Trích Dẫn
    Thích
    Tặng Vàng  

  20. #12
    加 明 不 子 Tấm Lòng Vàng: 0 Гамин's Avatar
    Tham gia ngày
    Jul 2004
    Bài gởi
    2,043
    Tài sản (Vàng)
    382,390
    Say 'Thank You!' for this post. :
    0 For This Post
    144 tổng số
    Cảm Ơn
    17
    Được Cảm Ơn 65 lần trong 49 Bài Viết
    Vàng
    382,390
    Già kén kẹn hom


    Tằm và kén

    Có một lời nhắc nhở, các chàng trai cô gái đến tuổi dựng vợ gả chồng hãy kén chọn một vừa hai phải thôi kẻo tình duyên lỡ làng, ế ẩm để đến nỗi phải than vãn:

    “Ai ngờ già kén kẹn hom, cao chẳng đến, thấp chẳng tới”
    (Phan Văn Ái, “Lẳng lơ phú”)

    Trở về với các vùng trồng dâu nuôi tằm, kéo tơ dệt vải, chúng ta được nghe cách lý giải của đồng bào ở đây về thành ngữ “già kén kẹn hom” hết sức lý thú. Tuy vậy, ở ngay cả trong các làng nghề này thì cách lý giải của họ cũng không thống nhất. Có ít nhất là hai cách hiểu sau đây:

    1./ Khi tằm chín nhả tơ làm thành kén, con tằm hóa thành nhộng nằm gọn trong kén tơ đó. Nếu để kén lâu ngày thì nhộng hóa thành con ngài (con bướm) cắn thủng kén bay ra, đẻ trứng. Loại kén “già” này khi kéo tơ thì tơ chẳng róc ra được (tơ bị kẹn). Già kén kẹn hom là như vậy. Song, ở cách hiểu này, người ta chẳng giải thích được từ hom là gì. Hom vẫn là một ẩn số.

    2./ Vẫn là người thợ thủ công nghề tơ tằm cho biết, trong nghề tằm tơ có một công đoạn là dùng né cho tằm làm kén. Người ta đan những thanh tre, nứa thành phên có chân đứng tựa như tấm liếp nhưng đan thưa tạo ra những ô trống hình vuông để cài rơm vào cho tằm làm kén. Đó là cái né. Làm nghề tằm tơ “sẵn nong sẵn né là thế”! còn những thanh tre, thanh nứa dùng để đan né được gọi là hom như nghĩa của hom trong hom gianh, hom sắn, hom dâu… Tằm chín được thả trên né để tùy ý chọn nơi nhả tơ kết kén. Nếu kén trên né mà to, mật độ lại dày (già kén) thì sẽ kẹt vào hom, khó gỡ (kẹn hom). Già kén kẹn hom vốn nghĩa là như vậy. Từ kẹn trong thành ngữ này có thể là dạng thức cổ của kẹt hay nghẹt chăng?. Vì trong tiếng Việt thấy có sự tương ứng về âm (âm đầu k –ng và âm cuối t-n) và nghĩa giữa kẹn với nghẹt, kẹt với nghẹt, nghẹn…

    Cách lý giải nguồn gốc và nghĩa của thành ngữ “già kén kẹn hom ” như vậy là thỏa đáng có có sức thuyết phục hơn cả vì nó phù hợp với quy tắc tương hợp ngữ nghĩa và đối ứng trong cấu trúc của thành ngữ. Đó là sự tương hợp và đối ứng giữa già (tính từ) với kẹn ( tính từ), kén (danh từ) với hom (danh từ).

    Như vậy từ câu chuyện con tằm kén tơ mà người VN đã liên hệ đến chuyện con người với con đường tình duyên của họ. Đối với nghề nuôi tằm để cho kén to bị kẹt chặt với hom thì làm sao tháo gỡ được ? Cũng vậy, môt ai đó cố tình kén chọn, kỹ tính quá để “quá lứa” lâm vào tình trạng kẹt giữa các thang giá trị kén lựa “cao chẳng đến, thấp chẳng tới” thì cũng khốn và không thể nào tháo gỡ ra khỏi cảnh lỡ làng, ế ẩm.

    (Theo Kể chuyện Thành ngữ tục ngữ)
     
    Trả Lời Với Trích Dẫn Trả Lời Với Trích Dẫn
    Thích
    Tặng Vàng  

  21. #13
    加 明 不 子 Tấm Lòng Vàng: 0 Гамин's Avatar
    Tham gia ngày
    Jul 2004
    Bài gởi
    2,043
    Tài sản (Vàng)
    382,390
    Say 'Thank You!' for this post. :
    0 For This Post
    144 tổng số
    Cảm Ơn
    17
    Được Cảm Ơn 65 lần trong 49 Bài Viết
    Vàng
    382,390
    Cáo Mượn Oai Hùm

    Người VN ta thường nghe thành ngữ "Cáo mượn oai hùm" hoặc "Cáo đội lốt hùm", là do thành ngữ "Hồ giả hổ uy" của Tàu.

    Thời Chiến quốc, vua nước Sở là Hoàn Vương lấy làm lạ rằng tại sao nhân dân miền Bắc Trung Hoa lại sợ hãi một vị đại tướng tên Chiêu Hề Tuất như vậy. Sở Hoàn Vương bèn hỏi các đại thần trong triều xem lý do là tại sao.

    Trong số đại thần, có một người tên là Giang Ất đã mượn một câu chuyện ngụ ngôn để giải thích cho Sở Hoàn Vương như sau:

    - Tại một khu rừng kia, một con hổ bắt được một con cáo. Con cáo tức thì làm bộ dọa nạt con hổ, nói rằng nó là sứ giả do trời sai xuống để thống trị muôn loài thú, nếu hổ xâm phạm đến nó tất là sẽ bị trời trừng phạt. Nếu hổ không tin, hãy đi theo nó, để xem muôn loài thú sợ hãi nó như thế nào.

    Con hổ nghe lời nói của con cáo tinh khôn, thấy cũng có lý, bèn bằng lòng theo sau để xem có đúng như lời cáo nói không.

    Quả nhiên, suốt trên đường đi, muôn loài thú thấy bóng dáng con cáo tới đâu, cũng đều hoảng sợ chạy hết. Con hổ đâu biết là muôn loài thú bỏ chạy, chính là vì sợ hổ, đâu phải vì sợ cáo.

    Nay binh quyền của chúa công được trao trả cho Chiêu Hề Tuất, nhân dân phương Bắc sợ hãi là sợ binh lực của chúa công chứ đâu phải sợ Chiêu Hề Tuất.


    Sự tích trên đây chép trong Quốc sách. Ý Giang Ất muốn so sánh con cáo trong truyện với Đại tướng Chiêu Hề Tuất, so sánh nhân dân phương Bắc với muôn loài, và so sánh con hổ với Sở Hoàn Vương, để giải thích rằng, sở dĩ nhân dân phương Bắc sợ hãi Chiêu Hề Tuất chỉ vì Chiêu Hề Tuất có được binh quyền do Sở Hoàn Vương trao cho mà thôi. Như vậy nhân dân phương Bắc sợ là sợ Sở Hoàn Vương, chứ không phải là sợ Chiêu Hề Tuất, cũng như muôn loài thú sợ là sợ con hổ chứ không phải sợ con cáo.

    Từ sự tích trên, người đời sau đã rút ra thành ngữ "Hồ giả hổ uy" (con cáo giả cái oai con cọp) để nói về người dựa vào quyền thế địa vị của người khác mà lên mặt, hoặc bắt nạt người cô thế .

    Có bài khác

    Cáo thì chỉ “bắt nạt” được gà, còn hùm (hổ, cọp) là chúa tể của muôn loài!. Hùm giỏi giang ở đâu thì chưa biết nhưng cái khoản tục ăn thì không ai bằng (ăn như hùm) và gian ác thì cũng đáng được xếp hạng “miệng hùm nọc rắn”. Vô phúc con vật nào, kể cả con người, để nó vồ được thì chỉ có nước mà về …chầu tiên tổ. Vậy nên trong tiếng Việt đã sinh ra câu “cáo mượn oai hùm” để chỉ hạng người luôn mượn thế kẻ mạnh, nấp dưới ô quyền lực đi hù dọa, lòe bịp người khác hoặc lấy đó làm lá chắn để thỏa sức lộng hành.


    Cáo

    Thành ngữ này vốn bắt nguồn từ một câu chuyện kể về sự gian ngoan, ma lanh của cáo đã khéo uốn ba tấc lưỡi để lừa “thầy hùm”, con hùm thì đúng là “to đầu mà dại” (!)

    …Có một còn hùm đói mồi, đang lang thang trong rừng kiếm ăn thì gặp ngay con cáo. Hùm sướng rơn và chắc mẩm phen này được bữa chén no say. Nhưng con cáo gian ngoan đã nói ngay với hùm rằng: “Này, cái ông hùm, ông hổ kia ơi! Ông đừng có mà ăn thịt tôi. Thượng đế đã giao cho tôi làm chúa tể muôn loài. Ông mà ăn tôi là làm trái ý của thượng đế! Không tin, ông cứ đi đằng trước, tôi đi đằng sau, thử hỏi có con vật nào trông thấy tôi mà không sợ?”. Và Hùm đã làm theo. Quả nhiên, chúng đi đến đâu, mọi thú đều chạy tán loạn. “Sự thật”, đó đã làm cho hùm tin lời cáo và đương nhiên cáo đã thoát chết! Hùm đâu biết rằng những con vật kia sợ mình, sợ từ cái bóng của mình, chứ đâu có sợ cáo!...


    Hùm

    Trong dân gian bên cạnh thành ngữ “cáo mượn oai hùm” còn có cách nói “cáo đội lốt hổ uy” với nghĩa tương tự nhưng ít dùng.

    Trong tiếng Việt, sự “tinh khôn, ranh mãnh, quỷ quyệt” đã trở thành một trong những nghĩa phổ biến của từ “cáo”.

    Ví dụ : “Thằng cha ấy cáo lắm”

    Đúng là “Những phường cáo mượn oai hùm ghê thay”



    (Theo Kể chuyện Thành ngữ Tục ngữ)
    thay đổi nội dung bởi: Гамин, ngày 06-09-2004 lúc 02:54 PM
     
    Trả Lời Với Trích Dẫn Trả Lời Với Trích Dẫn
    Thích
    Tặng Vàng  

  22. #14
    加 明 不 子 Tấm Lòng Vàng: 0 Гамин's Avatar
    Tham gia ngày
    Jul 2004
    Bài gởi
    2,043
    Tài sản (Vàng)
    382,390
    Say 'Thank You!' for this post. :
    0 For This Post
    144 tổng số
    Cảm Ơn
    17
    Được Cảm Ơn 65 lần trong 49 Bài Viết
    Vàng
    382,390
    Bắt cá hai tay

    Hễ một người nào đó vì lòng tham muốn có được nhiều thứ trong cùng một lúc, hoặc để ăn chắc, không được thứ này thì được thứ khác, hoặc vừa làm điều này ở đây rồi lại làm điều đó ở nơi khác nữa (theo lẽ thường anh ta chỉ được làm ở một nơi), thì sẽ bị mọi người gọi một cách mỉa mai là kẻ “bắt cá hai tay”.

    “Bắt cá hai tay” được hiểu ở đây với nghĩa đen là mỗi tay bắt một con cá và kết quả là tuột mất, chẳng bắt được con nào (vì mỗi tay bắt một thì không chắc chắn). Chẳng thế mà ca dao Việt Nam đã từng khuyên nhủ mọi người:

    “Xin đừng bắt cá hai tay
    Cá lội dưới nước, chim bay lên trời”


    Từ nghĩa đen cụ thể đó, nhân dân ta đã dùng thành ngữ này với nghĩa rộng hơn để chỉ những người có tư tưởng “nước đôi”, hoặc tham lam, ôn đồm, muốn có nhiều thứ, muốn làm nhiều việc cùng một lúc, không được việc này thì được việc khác, kết quả hoặc là không được gì, “xôi hỏng bỏng không” hoặc được chắc một thứ nhưng thường bị chê trách là tham lam, khôn ranh


    (Theo “Kể chuyện thành ngữ tục ngữ”)
     
    Trả Lời Với Trích Dẫn Trả Lời Với Trích Dẫn
    Thích
    Tặng Vàng  

  23. #15
    加 明 不 子 Tấm Lòng Vàng: 0 Гамин's Avatar
    Tham gia ngày
    Jul 2004
    Bài gởi
    2,043
    Tài sản (Vàng)
    382,390
    Say 'Thank You!' for this post. :
    0 For This Post
    144 tổng số
    Cảm Ơn
    17
    Được Cảm Ơn 65 lần trong 49 Bài Viết
    Vàng
    382,390
    Vắng Như Chùa Bà Đanh

    Chùa Bà Đanh là tên gọi Nôm của chùa Châu Lâm. Chùa này được cất lên cùng với viện Châu Lâm vào thời vua Lê Thánh Tông (1460-1497) ở làng Thụy Chương, Hà Nội.

    Vì để tránh húy miếu vua Thiệu Trị nên sau này Thụy Chương phải đổi thành Thụy Khuê Vào thời đó, viện Châu Lâm được dùng làm chỗ ở cho những người Chiêm Thành được đưa về sau các cuộc chiến tranh, còn chùa Châu Lâm là nơi dành cho họ cúng lễ (vì hầu hết những người này đều theo đạo Phật).

    Sau khi người Pháp chiếm đóng Hà Nội, họ đã chiếm khu vực đất này để lập trường Trung học bảo hộ (1907) - nay là trụ sở của trường trung học Chu Văn An, vì thế chùa Châu Lâm phải dời về phía Tây Nam, ở cuối làng và đổi sang tên mới là chùa Phúc Lâm.

    Dấu tích của chùa Phúc Lâm hiện vẫn còn giữ lại được tấm bia ghi rõ: Bà Đanh tự (chùa Bà Đanh).

    Theo tục truyền, Bà Đanh là một người đàn bà đã có công dựng lên chùa này, vì thế mà ngôi chùa mang tên bà. Từ khi viện Châu Lâm bị bãi bỏ, số người đến lễ bái chùa này ngày một ít đị Chính vì thế mà không khí ngôi chùa này ngày càng trở nên vắng vẻ. Trong bài "Tụng Tây Hồ phú" của Nguyễn Huy Lượng có ghi lại cảnh vắng của chùa này:

    Dấu bố cái rêu in nền phủ
    Cảnh Bà Đanh hóa khép cửa chùạ



    Cảnh vắng vẻ, thiếu người đến lễ bái của chùa Bà Đanh dần dần đã trở thành một hình ảnh để so sánh với bất cứ một cảnh vắng vẻ nàọ "Vắng như chùa Bà Đanh" là một sự vắng vẻ yên tĩnh gợi nên vẻ lạnh lẽo, cô quạnh, thiếu hơi ấm của con ngườị Ca dao Hà Nội có câu:

    Còn duyên kẻ đón người đưa
    Hết duyên vắng ngắt như chùa Bà Đanh.
     
    Trả Lời Với Trích Dẫn Trả Lời Với Trích Dẫn
    Thích
    Tặng Vàng  

  24. #16
    加 明 不 子 Tấm Lòng Vàng: 0 Гамин's Avatar
    Tham gia ngày
    Jul 2004
    Bài gởi
    2,043
    Tài sản (Vàng)
    382,390
    Say 'Thank You!' for this post. :
    0 For This Post
    144 tổng số
    Cảm Ơn
    17
    Được Cảm Ơn 65 lần trong 49 Bài Viết
    Vàng
    382,390
    Tứ Hỉ

    Tứ Hỉ phát xuất từ quan niệm của người Trung Hoa, cho rằng trong đời người, có 4 điều tốt lành mà ai cũng đáng vui mừng:

    Cữu hạn phùng cam vũ
    Tha hương ngộ cố tri
    Động phòng hoa chúc dạ
    Kim bảng quải danh thì.

    Có nghĩa là:

    Hạn hán lâu ngày nay có mưa
    Nơi xứ lạ quê người gặp được bạn cũ
    Đêm động phòng hoa chúc của vợ chồng mới cưới
    Lúc thi, đỗ bảng vàng.
     
    Trả Lời Với Trích Dẫn Trả Lời Với Trích Dẫn
    Thích
    Tặng Vàng  

  25. #17
    加 明 不 子 Tấm Lòng Vàng: 0 Гамин's Avatar
    Tham gia ngày
    Jul 2004
    Bài gởi
    2,043
    Tài sản (Vàng)
    382,390
    Say 'Thank You!' for this post. :
    0 For This Post
    144 tổng số
    Cảm Ơn
    17
    Được Cảm Ơn 65 lần trong 49 Bài Viết
    Vàng
    382,390
    Thần Tài

    Theo truyền thuyết, thần tài chính là Triệu Công Minh, người đời nhà Tần. Ông lánh đời đi tu tại núi Chung Nam. Về sau đắc đạo, ông được phong làm Chính Nhất Huyền Đàn Nguyên Soái, coi việc đuổi trừ ôn dịch, cứu bịnh trừ taị Hơn nữa, ai bị oan ức đến cầu cứu ông thì được giúp đỡ. Người buôn bán thì cúng cầu ông để được phát đạt may mắn.

    Người ta thường vẽ ông thành hình một người mặt đen, râu rậm, tay cầm roi, cưỡi cọp đen. Dân gian còn gọi ông là Tài Bạch Tinh Quân hay Triệu Công Nguyên Soáị.

    Ghi chú thêm của Gamin:
    Hiện nay nhiều người lầm lẫn Thần Tài (mặt đen) với thần Bạch Mi (mặt không đen). Thân Bạch Mi chỉ được thờ ở những nơi… lầu xanh!
    thay đổi nội dung bởi: Гамин, ngày 09-09-2004 lúc 03:00 PM
     
    Trả Lời Với Trích Dẫn Trả Lời Với Trích Dẫn
    Thích
    Tặng Vàng  

  26. #18
    加 明 不 子 Tấm Lòng Vàng: 0 Гамин's Avatar
    Tham gia ngày
    Jul 2004
    Bài gởi
    2,043
    Tài sản (Vàng)
    382,390
    Say 'Thank You!' for this post. :
    0 For This Post
    144 tổng số
    Cảm Ơn
    17
    Được Cảm Ơn 65 lần trong 49 Bài Viết
    Vàng
    382,390
    Giấc Mộng Nam Kha

    Thuần Vu Phần ngày xưa rất nghèo, nằm ngủ bên gốc cây hòe, chiêm bao thấy hai sứ giả mời ông làm Phò mã, rồi được vua phong làm Thái thú ở đất Nam Kha rất vinh hiển. Khi tỉnh giấc chỉ thấy một đàn kiến bên mình.

    "Giấc mộng Nam Kha", ý nói giấc mộng đẹp đẽ và ngắn ngủi (tương tự như "Giấc mộng hoàn kê" : có người nấu nồi cháo kê, ngủ quên, nằm mơ thấy làm quan rồi được thăng quan, đến khi bị rớt áo mão trở về dân thường mới giật mình tỉnh dậy, thì ra là một giấc mơ, nồi cháo kê vẫn chưa xong còn (nguyên hạt) chưa thành cháo.
     
    Trả Lời Với Trích Dẫn Trả Lời Với Trích Dẫn
    Thích
    Tặng Vàng  

  27. #19
    加 明 不 子 Tấm Lòng Vàng: 0 Гамин's Avatar
    Tham gia ngày
    Jul 2004
    Bài gởi
    2,043
    Tài sản (Vàng)
    382,390
    Say 'Thank You!' for this post. :
    0 For This Post
    144 tổng số
    Cảm Ơn
    17
    Được Cảm Ơn 65 lần trong 49 Bài Viết
    Vàng
    382,390
    Giá Áo Túi Cơm

    Thời Ngũ Đại, có một người tên là Mã Ân, tiếm ngôi vuạ Mã Ân nguyên trước chỉ là một vị quan võ nhỏ, bộ hạ của quan Vũ An Tiết Độ Sứ đời Đường là Lưu Kiến Phong. Rồi sau, Lưu Kiến Phong bị bộ hạ giết, Mã Ân được tôn lên làm Thống soáị

    Rồi đến khi Chu Ôn soán được thiên hạ của nhà Đường, đổi quốc hiệu là Lương (sử gọi là nhà Hậu Lương), thì Mã Ân được phong làm Sở Vương, làm chủ cả một giải
    đất Đông Bắc tỉnh Hồ Nam và Quảng Tây, quyền uy lừng lẫy một thờị

    Nhưng Mã Ân thật sự lại chỉ là một kẻ tầm thường, bất tài, chuyên lo hưởng thụ, người đương thời rất khinh thường Mã Ân, và gọi Mã Ân là "Tửu nang phạn đại",
    ý nói rằng Mã Ân chỉ là cái túi để chứa rượu, đựng cơm mà thôị

    Về sau, người đời biến "Tửu nang phạn đại" thành thành ngữ để chỉ hạng người bất tài vô đức, không giúp gì được cho quốc gia xã hội, trái lại chỉ chạy theo lợi
    danh, mưu cầu cơm áo cho mình mà thôị
     
    Trả Lời Với Trích Dẫn Trả Lời Với Trích Dẫn
    Thích
    Tặng Vàng  

  28. #20
    加 明 不 子 Tấm Lòng Vàng: 0 Гамин's Avatar
    Tham gia ngày
    Jul 2004
    Bài gởi
    2,043
    Tài sản (Vàng)
    382,390
    Say 'Thank You!' for this post. :
    0 For This Post
    144 tổng số
    Cảm Ơn
    17
    Được Cảm Ơn 65 lần trong 49 Bài Viết
    Vàng
    382,390
    Hương Lửa Ba Sinh

    Trong sách "Quần ngọc chú" có ghi lại chuyện Tỉnh Lang đi chơi chùa Nam Huệ Tự. Ở chùa, Tỉnh Lang nằm chơi một lúc đã ngủ thiếp đi không hay biết gì. Trong giấc ngủ, Tỉnh Lang mơ thấy mình đi chơi Non Bồng. Ở chốn ấy, Tỉnh Lang gặp một ông thầy ngồi niệm kinh, trước mặt có một cây hương đang cháỵ Do tò mò, Tỉnh Lang bèn hỏi về nguyên do cây hương nàỵ Thầy tăng đáp lại rằng, trước đó đã có một người lên chùa và thắp cây hương này để khấn nguyện, cầu phúc. Nay cây hương vẫn còn cháy mà người ấy đã sinh được ba kiếp rồị Kiếp đầu tiên là vua Huyền Tôn, kiếp thứ hai là vua Hiến Tôn ở đời Đường, và kiếp thứ ba là Tỉnh Lang. Nghe đến tên mình, Tỉnh Lang giật mình tỉnh giấc, lòng nửa tin nửa ngờ. Về sau, điển tích này được lưu truyền rộng rãi trong dân gian và dần dà đã hình thành nên thành ngữ "tam sinh hương lửa" hay "hương lửa ba sinh" để chỉ lời nguyện có hiệu lực đến ba đời ngườị

    Về nguyên do của thành ngữ này, có sách cũng ghi lại nhưng đôi chỗ có khác đi chút ít. Theo "Từ điển truyện Kiều" của cụ Đào Duy Anh thì sách "Truyền đăng lục" chép là: có người mộng thấy một vị lão tăng, trước mặt có tia khói rất nhỏ. Vị tăng nói rằng: "Đó là khói hương của một người đàn việt kết nguyện, người đàn việt đã trải qua ba kiếp mà hương vẫn còn".

    Như vậy, tuy các dị bản có khác nhau ở một số chi tiết, nhưng về cơ bản nguồn gốc và con đường hình thành thành ngữ "hương lửa ba sinh" đều thống nhất. Trong tiếng Việt, thành ngữ "hương lửa ba sinh" được dùng để chỉ lời nguyền, lời thề có ứng nghiệm đến ba kiếp, ba đời.
     
    Trả Lời Với Trích Dẫn Trả Lời Với Trích Dẫn
    Thích
    Tặng Vàng  

+ Trả Lời Ðề Tài
Trang 1/3 1 2 3 cuốicuối

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts