CHIẾN DỊCH VIỆT BẮC - THU ĐÔNG 1947
(Phản công, từ ngày 7 tháng 10 đến ngày 20 tháng 12 năm 1947)
Việt Bắc là một liên khu nằm ở phía bắc của Bắc Bộ, bao gồm 17 tỉnh (Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên) Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Giang, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Quảng Yên, Hải Ninh, Tuyên Quang và châu Mai Đà). Địa hình chủ yếu là rừng núi, một phần trung du. Rừng núi Việt Bắc trùng điệp, địa hình hiểm trở. Đường bộ và đường thuỷ ít và độc đạo. Phía đông bắc có đường số 4 chạy dọc theo biên giới Việt - Trung từ Móng Cái đến Cao Bằng. Đường số 3 từ Hà Nội chạy lên giữa lòng Chiến khu Việt Bắc, đi Thái Nguyên, lên Bắc Cạn và tới Cao Bằng. Đường số 2 từ Hà Nội lên Việt Trì, Phú Thọ, tới Tuyên Quang, Hà Giang. Đường thuỷ dọc sông Hồng lên ngã ba Việt Trì, rẽ theo sông Lô lên Tuyên Quang, rẽ theo sông Gâm tới Chiêm Hoá. Khí hậu Việt Bắc khắc nghiệt, mùa đông lạnh giá, mùa hè nắng nóng mưa nhiều, khi mưa hàng trăm con suối và sông nước lũ cuồn cuộn, cản trở cho việc chuyển quân của cả hai bên. Dân cư Việt Bắc gồm nhiều dân tộc ít người, sống thưa thớt, canh tác tự cung tự cấp, nghèo, nhưng vốn có truyền thống yêu nước, được giác ngộ một lòng đi theo cách mạng, ủng hộ kháng chiến.
Do Việt Bắc có địa thế hiểm trở, hạn chế được địch cả về cơ động và tầm quan sát, cả khả năng triển khai lực lượng lớn và phương tiện chiến đấu hiện đại khi tiến công tiến hành tác chiến lớn phải theo mùa... nên ngay từ tháng 8 năm 1945, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao cho đồng chí Phạm Văn Đồng và đồng chí Nguyễn Lương Bằng ở lại Tân Trào một thời gian trực tiếp chỉ đạo củng cố khu căn cứ của Trung ương. Đến cuối tháng 10 năm 1946 (trước ngày toàn quốc kháng chiến), thực hiện chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Nguyễn Lương Bằng từ Hà Nội trở lại Việt Bắc chuẩn bị căn cứ địa kháng chiến. Các huyện Chợ Đồn (Bắc Cạn), Chiêm Hoá, Sơn Dương (Tuyên Quang), Định Hoá, Đại Từ (Thái Nguyên), được chọn làm An toàn khu (ATK). Bắt đầu từ tháng 11 năm 1946, để bảo toàn lực lượng, các cơ quan Trung ương Đảng, Chính Phủ, Mặt trận, Bộ Tổng chỉ huy lần lượt rời Hà Nội lên Việt Bắc để lãnh đạo, tổ chức kháng chiến lâu dài. Các binh công xưởng, xí nghiệp, nhà máy, gần 63 nghìn đồng bào miền xuôi và hàng vạn tấn máy móc, nguyên vật liệu được vận chuyển, sơ tán lên Việt Bắc để quân và dân ta vừa sản xuất vừa tiếp tục chiến đấu.
Về phía địch, đầu năm 1947, sau khi “Giải pháp chính trị” lập chính phủ bù nhìn bế tắc, thực dân Pháp đã quyết định dùng “đòn quân sự” để giải quyết chiến tranh Việt Nam và Đông Dương.
Nhận rõ vị trí chiến lược của Việt Bắc, tướng Va-luy (Valluy) - Tổng tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương đã giao cho tướng Xa-lăng (Salan) - Tư lệnh quân Pháp ở Bắc Đông Dương ráo riết chuẩn bị “Kế hoạch tiến công Việt Bắc”. Tháng 6 năm 1947, Va-luy bay về Pháp để thông qua “Kế hoạch tiến công Việt Bắc” trước nội các Ra-ma-đi-ê (Ramadier) và xin tăng viện (đầu tháng 7, Chính phủ Pháp đã thông qua kế hoạch này). Ngay sau đó, 14 tiểu đoàn Âu-Phi trong lực lượng tăng viện đã đổ bộ lên miền Bắc Việt Nam. Một số đơn vị quân Pháp ở Nam bộ cũng được điều gấp ra Bắc Bộ.
Lực lượng tham gia tiến công trên 10 nghìn quân, gồm: năm trung đoàn bộ binh1, ba tiểu đoàn dù, hai tiểu đoàn pháo binh, hai tiểu đoàn công binh, ba đại đội cơ giới2, hai phi đội với 40 máy bay, ba thuỷ đội xung kích với 40 tàu, xuồng.
Kế hoạch tiến công, địch dự kiến chia thành hai bước:
Bước 1: Mang mật danh Lê-a (Léa)3. Mục tiêu đánh chiếm là khu tam giác Bắc Cạn - Chợ Đồn - Chợ Mới. Cụ thể, ngày 7 tháng 10 năm 1947 quân dù sẽ đồng loạt đổ bộ đánh đòn vu hồi, tập hậu hiểm hóc vào hậu phương của ta một cách bất ngờ, sẽ chiếm Bắc Cạn, Chợ Mới. Ngày 8, nhảy dù tiếp, chiếm Chợ Đồn và càn quét vùng xung quanh. Ngày 9, hai cánh quân dù này gặp nhau ở bản Pei (cách thị xã Bắc Cạn 20 km về phía bắc) hòng “bắt gọn chính phủ kháng chiến”.
Cùng lúc này hình thành hai mũi như hai gọng kìm bao vây toàn bộ khu căn cứ địa Việt Bắc bao gồm năm tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang và Thái Nguyên. Hai mũi sẽ tiến công từ hai hướng:
Hướng đông (dài 420km), lực lượng “binh đoàn B” gồm cơ giới và bộ binh sẽ thọc một mũi nhọn theo quốc lộ số 4 từ Lạng Sơn lên Cao Bằng; vừa hành quân càn quét vừa triển khai chiếm đóng cứ điểm dọc trục lộ, thực hiện phong toả vùng biên giới này. Sau đó, từ Cao Bằng, một bộ phận sẽ tiến xuống Bắc Cạn phối hợp và hỗ trợ binh đoàn dù, hình thành gọng kìm thứ nhất kẹp chặt toàn bộ mặt phía đông của Việt Bắc.
Hướng tây, lực lượng “binh đoàn C” gồm quân thuỷ và bộ từ Hà Nội lên Việt Trì, phát triển lên Tuyên Quang, Chiêm Hoá theo sông Hồng, sông Lô, sông Gâm và quốc lộ số 2, hình thành gọng kìm thứ hai (dài 250 km).
Bộ chỉ huy Pháp dự kiến: Ngày 11 tháng 10 hoàn thành việc phòng thủ Chợ Mới, sau đó sẽ tiến hành càn quét và tuần tiễu trên đường số 3 và đường Chợ Mới - phố Bình Gia. Ngày 12, cánh đông sẽ tiến xuống Bắc Cạn. Ngày 13 tháng 10, hai gọng kìm sẽ hội quân ở Đài Thị (đông bắc Chiêm Hoá 12 km).
Bước 2: Mang mật danh “Xanh-tuya” (Ceinture)4, tức “siết chặt vành đai”. Quân địch sẽ tập trung càn quét khu tam giác: Bắc Cạn - Chợ Chu - Chợ Mới, lấy vùng Chợ Chu làm mục tiêu trọng điểm. Ngày 14 tháng 10, dùng nhiều hướng, mũi: quân bộ từ Bắc Cạn xuống, từ Chợ Mới đánh sang, phối hợp với quân dừ nhảy thẳng xuống Chợ Chu. Một đơn vị dù khác đổ bộ xuống phía nam huyện ly Định Hoá nhằm khóa, chặn đường giao thông huyết mạch của kháng chiến Chợ Chu - Thái Nguyên, đây là vùng thủ đô kháng chiến, của ta.
Như vậy, không gian của cuộc hành quân trải rộng trên địa bàn tám tỉnh, nhưng chúng sẽ tập trung quân càn quét vào khu tứ giác: Tuyên Quang - Đài Thị - Bắc Cạn - Thái Nguyên (khoảng 360 km2), trọng điểm đánh phá, càn quét là tam giác: Bắc Cạn - Chợ Chu - Chợ Mới5. Cùng với lực lượng tham chiến chính thức kể trên, các tiểu đoàn dù do Phô-xây Phơ-răng-xoa (Fossey François) chỉ huy, tập kết ở sân bay Gia Lâm và Cát Bi, sẵn sàng đổ bộ xuống nơi phát hiện có cơ quan đầu não kháng chiến.
Pháp chủ trương tập trung sức mạnh tối đa, tiến công chớp nhoáng với chiến thuật hợp đồng thuỷ - lục - không quân càn quét mạnh từng khu vực, lấn chiếm dần để dồn kẹp ta lại mà bao vây tiêu diệt; nhằm “4 mục tiêu chiến lược” của cuộc tiến công là: “Diệt và bắt cơ quan đầu não của Việt Minh, tìm diệt chủ lực, phá tan căn cứ địa Việt Bắc, bịt kín, khóa chặt biên giới Việt - Trung, ngăn chặn không cho Việt Minh tiếp xúc với Trung Quốc và loại trừ mọi chi viện từ bên ngoài vào. Truy lùng Việt Minh đến tận sào huyệt, đánh cho tan tác mọi tiềm lực kháng chiến của họ...”6.
Bộ chỉ huy Pháp dự kiến cho cuộc hành quân là ba tháng và xem đây là một kế hoạch hoàn hảo, có khả năng đi đến kết thúc chiến tranh. Tướng Va-luy khẳng định sẽ “chơi ván bài cuối cùng”. Tướng Xa-lăng, tác giả của “kế hoạch tiến công Việt bắc” thì cam đoan “Chỉ cần ba tuần lễ để đập tan đầu não của Việt Minh”7.
Về phía ta, trước khi Pháp mở cuộc tiến công, lực lượng quân đội ta trên toàn quốc có 105.990 người (Bắc Bộ có 45.802 người8; biên chế thành 20 trung đoàn, có hai trung đoàn 147 và 165 của Bộ và nhiều tiểu đoàn độc lập của khu và của Bộ. Trang bị thiếu thốn và không thống nhất, có gì dùng nấy. Một tiểu đoàn thường có hai đại liên, một đến hai cối 60mm, tám trung liên, 140 đến 160 súng trường đủ các kiểu (Nhật, Nga, Pháp). Một số tiểu đoàn của Bộ có pháo 20mm, trọng liên 13,2 mm, 12,7 mm và cối 81mm. Bộ đội và cán bộ chỉ huy các cấp chưa được huấn luyện thành thục về kỹ thuật, chiến thuật. Trình độ và khá năng chiến đấu giữa các đơn vị không đồng đều. Trừ Trung đoàn Thủ đô và Trung đoàn Lạng Sơn đã được thử thách qua chiến đấu, phần lớn các đơn vị còn lại chưa hề qua chiến đấu, trình độ kỹ thuật chiến thuật của bộ đội, trình độ tổ chức chỉ huy của cán bộ, tình hình trang bị của ta chưa cho phép tiến hành những trận đánh lớn để ngăn chặn địch. Các binh chủng pháo binh, công binh chưa được tổ chức thành đơn vị. Phương tiện thông tin liên lạc và vận tải thiếu nhiều, chủ yếu là liên lạc chạy bộ. Cung cấp, tiếp tế hậu cần có nhiều khó khăn chủ yếu dựa vào chính quyền và nhân dân địa phương. Bộ đội nhiều người bị sốt rét đã ảnh hưởng đến sức chiến đấu. Thời kỳ này ta yếu hơn địch về mọi mặt nhưng tinh thần chiến đấu, chịu đựng gian khổ hy sinh, dũng cảm của bộ đội ta thì được phát huy mạnh mẽ.
Riêng trên địa bàn chiến dịch, lực lượng ta có bảy trung đoàn bộ binh, tổng cộng 18 tiểu đoàn chủ lực (trong đó có hai tiểu đoàn của Bộ), 30 đại đội độc lập, 4.228 dân quân du kích tập trung9; ngoài ra còn có lực lượng tự vệ của các thị xã, thị trấn, công xưởng trên toàn Quân khu Việt Bắc. Pháo binh có bốn khẩu (ba khẩu 75mm, một khẩu 70mm). Phòng không có hai pháo 20mm, hai khẩu 13,2 mm và sáu khẩu 12,7 mm.
Lực lượng dân quân du kích ở địa phương Việt Bắc đã được tổ chức, củng cố khá mạnh, tính đến 12 năm 1947, riêng bốn tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên đã có tới 3.319 du kích tập trung. Đến cuối 9 năm 1947, cấp tỉnh có một đến hai trung đội hoặc một đại đội; huyện có một đến hai trung đội du kích tập trung; tinh thần vững, hăng hái chiến đấu nhưng huấn luyện còn ít, kinh nghiệm còn non.
Chiến dịch do Bộ Tổng chỉ huy trực tiếp chỉ huy, đồng chí Võ Nguyên Giáp làm chỉ huy trưởng. Sở chỉ huy cơ bản ở Yên Thông; đến chiều 20 tháng 10 năm 1947, chuyển sang Tràng Xá (Thái Nguyên). Giai đoạn 2 chuyển về vùng Lục Rã, Quảng Nạp (cuối tháng 11 đầu tháng 12 năm 1947)10.
____________________________________
1. Gồm: Trung đoàn Ma-rốc số 6 (6e RTM), trung đoàn bộ binh thuộc địa Ma-rốc (RICM), trung đoàn bộ binh thuộc địa số 4 (4e - RIC), trung đoàn bộ binh Lê dương số 3 (3e REI) và một trung đoàn do Cô-xtơ (Coste) chỉ huy.
2. Ba đại đội này của trung đoàn bộ binh cơ giới Ma-rốc gồm 800 xe các loại.
3. Léa (Lê-a) - Tên một ngọn đồi cao 1.362 mét, trên trục đường số 3 nằm giữa Nguyên Bình và Bắc Cạn.
4. “Kế hoạch tiến công Việt Bắc” do Xa-lăng soạn thảo gồm hai cuộc hành binh lớn mang mật danh Lê-a và Clo-clo. Nhưng khi tiến hành cuộc hành binh thứ nhất (bước 1) đã không thực hiện được đúng như kế hoạch, mà vừa chậm vừa bị nhiều tổn thất nên đến “bước 2”, Xa-lăng đã lờ đi, không đả động gì đến mật danh Clo-clo nữa mà phải thay bằng Xanh-tuya - Tức “siết chặt vành đai”, dồn sức vào đánh phá khu tứ giác: Tuyên Quang - Thái Nguyên – Phủ Lạng Thương-Việt Trì.
5. Chợ Chu, Chợ Mới thuộc huyện Định Hoá - Khi quân Pháp nhảy dù xuống đây, cơ quan Trung ương của ta ở cách đó 20 km đường chim bay.
6. “Hồi ký Xa-lăng”. Nxb Presses de la Cité Pari, 1971 - T. 2, tr. 58 và 74.
7. “Hồi ký Xa-lăng” - Sđd.
8. Nghị quyết Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ tư ngày 12 tháng 10 năm 1947 tổ chức tập trung lại thành bảy khu nằm trong ba liên khu: Liên khu 1 gồm Khu 1 và 12; Liên khu 10 gồm Khu 10 và 14; Liên khu 3 gồm Khu 2, Khu 3 và Khu 11. Trong 20 trung đoàn, trừ hai trung đoàn chủ lực của Bộ, còn lại đều là trung đoàn địa phương các khu. Thời kỳ này trung đoàn là đơn vị tổ chức cao nhất. Bộ đang chuẩn bị thành lập “Đại đoàn chủ lực”, xảy ra việc địch tiến công Việt Bắc nên việc thành lập này hoãn lại.
9. a- Hồ sơ M-VL/10-721 BTTM, Cục Nghiên cứu khoa học quân sự (bản đánh máy tháng 4 năng 1962) ghi: “Có 10 trung đoàn gồm: Chủ lực của Bộ có hai trung đoàn 147 và 165 (thiếu 1d) và hai tiểu đoàn; Khu 1 có ba trung đoàn: 72, 74, 121 và hai tiểu đoàn: 19 và 43; Khu 12 có bốn trung đoàn: 11, 36, 59, 98 và tiểu đoàn 517; Khu 10 có một trung đoàn”. Nhưng trước khi chiến dịch Việt Bắc nổ ra, thực hiện chủ trương “Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung theo quyết định của Bộ, ba trung đoàn (36, 59 và 98) đã phân tán lực lượng thành các “Đại đội độc lập” xuống hoạt động và gây dựng phong trào du kích chiến tranh ở các vùng dân cư. Do đó thực chất tham gia Chiến dịch Việt Bắc chỉ có bảy trung đoàn.
b- Dân quân du kích của năm tỉnh (Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên và Bắc Giang) mỗi tỉnh có hai trung đội, mỗi huyện có một trung đội dân quân du kích tập trung.
c- Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Pháp: Bộ Tổng Tham mưu - Ban Tổng kết lịch sử xuất bản 1991. Tr. 209. Lúc này sở chỉ huy chia thành hai khu. Khu A, nơi đặt chỉ huy chiến dịch ở Tràng Xá, khu B ở Núi Hồng (Thái Nguyên). Sở chỉ huy tiền phương đặt ở Bình Gia (Sđd – tr. 211).)
10. Sau ngày 13 tháng 10, khi ta có trong tay bản “Kế hoạch tiến công Việt Bắc” của địch, ta tổ chức, điều chỉnh lại lực lượng, hình thành các mặt trận (nói ở phần sau), thì trên mỗi mặt trận lại có “Sở chỉ huy tiền phương” của mặt trận đó.Xem thêm::







Trả Lời Với Trích Dẫn
